Thứ Tư, 9 tháng 10, 2013

Phản hồi bài viết: "Phát hiện phong sắc lụa quý hiếm, có niên đại gần 400 năm" đăng trên báo điện tử Dân trí.

I. MỘT BÀI VIẾT SAI CƠ BẢN VỀ KIẾN THỨC



Một bài viết của tác giả Hồ Hà - Nguyễn Duy, đăng trên báo điện tử Dân trí (sáng nay cũng đã đăng trên báo Nghệ An), phải chụp lại để các bác khỏi sửa. Bản điện tử thì có thể sửa dễ dàng nhưng bản giấy thì e hơi khó. 

Bài viết cẩu thả, chứng tỏ tác giả hơi non về chuyên môn (có lẽ là bác Hồ Hà thôi, còn bác Nguyễn Duy đứng tên cùng).

Xin lược mấy điểm mà sai lầm không thể chấp nhận được:

- Tư liệu trong bài là "chế", chứ không phải "sắc phong", đây là những văn bản có tính chất khác nhau.

- Qua quan sát, bản sắc phong cổ này được làm từ chất liệu vải lụa có màu vàng nhạt, in hoa văn cúc dây. Trên bản sắc phong cổ này có 295 chữ Hán được viết theo kiểu chữ thảo, có chiều dài 4,3m, rộng 0,42m.

Đây là thông tin sai, chế này đã mất một số chữ, do đó không thể khẳng định được đây là chế có 295 chữ (mặc dù có thể còn đủ 295 chữ như trên ảnh), số chữ có thể nhiều hơn (Chế đã mất mấy chữ: Phụng thiên hưng vận... 承天興運皇上制曰 như thường thấy.

Sắc này không phải chữ Thảo, cái này chứng tỏ người viết không hề có kiến thức chữ Hán.

- Theo cơ quan chức năng cho biết, bản sắc phong này được viết vào đời vua Lê Thần Tông, hiệu Vĩnh Tộ năm thứ 11, ngày 11 tháng 4 nhuận, tức năm 1829. 

Năm 1629 chứ không phải 1829 (vua Minh Mạng thời Nguyễn), lỗi đánh máy nhưng chứng tỏ cẩu thả. Tương tự đoạn sau: một sắc phong có niên Đức Long nguyên niên (1929), năm 1929 là thời Bảo Đại rồi.

- Cha là Hoằng Quận Công Nguyễn Kế Hưng - một công thần triều Lê. Tuổi nhỏ vốn thông thạo võ nghệ. Lớn lên, ông thi đậu Tạo sỹ võ và được triều đình cử làm Đô đốc Bình An vương, chỉ huy quân đội triều đình Bắc Hà.

Xin lỗi, Bình An Vương là chúa Trịnh Tùng, Nguyễn Kế Hưng làm tướng mà được phong Vương. 

- Ngày 11 tháng 4 nhuận năm 1629, vua Lê Thần Tông đã ban chế ca ngợi công đức của Nguyễn Trọng Thưởng đối với đất nước và phong sắc cho ông tước: “Nguyên soái tổng quốc thanh đô vương, Thượng trụ quốc Trinh quận công” 

Cái này là vớ vẩn, là tướng không ai được chế phong là Vương cả. Vương trong giai đoạn này chỉ có cho các chúa Trịnh. Hình như không có "Nguyên soái tổng quốc thanh đô vương" mà chỉ có "Nguyên soái thống quốc chính Thanh Đô Vương", cái này để kê cứu thêm đã.

- đích thân vua Lê Thần Tông cùng với một số quan văn, võ trong triều đình về Thượng Xá để ban sắc và phong ông thêm chức Thái Bảo.

Cái này chắc chỉ có trong gia phả, chính sử không biết thế nào, nhưng 90% là không có (cũng không có tục này), kê cứu đã.

Người xưa nói: Biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe. Nhất là chữ Hán.



II. Bài gốc ở đây:

III. Copy bài lúc 10h ngày 09 tháng 10 năm 2013:

(Dân trí) - Thông tin từ Ban Quản lý Di tích và Danh thắng Nghệ An cho biết, một bản phong sắc lụa cổ quý hiếm, có niên đại gần 400 năm đã được cơ quan này phát hiện tại xóm 3, xã Nghi Hợp (Nghi Lộc, Nghệ An).
Ngày 8/7, cơ quan Ban Quản lý Di tích và Danh thắng Nghệ An cho biết, cơ quan này vừa phát hiện một bản sắc phong lụa cổ quý hiếm và độc đáo nhất từ trước tới nay. Được biết, sắc phong lụa cổ quý hiếm này được tìm thất tại nhà thờ họ Nguyễn Trọng (ở xóm 3, xã Nghi Hợp, Nghi Lộc, Nghệ An).
Qua quan sát, bản sắc phong cổ này được làm từ chất liệu vải lụa có màu vàng nhạt, in hoa văn cúc dây. Trên bản sắc phong cổ này có 295 chữ Hán được viết theo kiểu chữ thảo, có chiều dài 4,3m, rộng 0,42m, được cuộn tròn, đựng trong một hòm gỗ sơn màu đỏ, hình chữ nhật. Hiện tại, sắc phong này đã được con cháu dòng họ Nguyễn Trọng lưu giữ và bảo vệ cẩn thận tại nhà thờ trong suốt 385 năm qua.
Theo cơ quan chức năng cho biết, bản sắc phong này được viết vào đời vua Lê Thần Tông, hiệu Vĩnh Tộ năm thứ 11, ngày 11 tháng 4 nhuận, tức năm 1829. Nội dung bản chế ca ngợi công đức và tiến phong tước “Nguyên soái, tổng quốc thanh đô vương, Thượng trụ quốc Trinh quận công thiết tổ” cho ông Nguyễn Trọng Thưởng - một vị tướng thời Lê.
Được biết, trong gia phả dòng họ Nguyễn Trọng có viết, Ông Nguyễn Trọng Thưởng vốn xuất thân từ một gia đình có truyền thống võ học, thuộc đời thứ 5 dòng dõi của Cương Quốc Công Nguyễn Xí. Cha là Hoằng Quận Công Nguyễn Kế Hưng - một công thần triều Lê. Tuổi nhỏ vốn thông thạo võ nghệ. Lớn lên, ông thi đậu Tạo sỹ võ và được triều đình cử làm Đô đốc Bình An vương, chỉ huy quân đội triều đình Bắc Hà.
Năm 1623, Trịnh Xuân giết cha là Trịnh Tùng, giành ngôi chúa, Mạc Kính Khoan biết tin liền đem quân đánh phá kinh thành Thăng Long. Vua Lê Thần tông cùng gia quyến phải bỏ thành lui về cố cung Thanh Hóa. Trước tình hình đó Nguyễn Trọng Thưởng đã tập trung binh lính, các bá quan văn võ trong triều để bảo vệ kinh thành và đánh dẹp được quân nhà Mạc, buộc quân nhà Mạc phải rút lui lên Cao Bằng.
Có công lớn trong việc bảo vệ vua Lê, năm 1628, Nguyễn Trọng Thưởng cùng với em ruột là Nguyễn Kế Đại và con trai của mình là Trịnh xá Hầu Nguyễn Trọng Chất, phó Đô sứ Nguyễn Trọng Hiền, Thượng trụ quốc Nguyễn Trọng Lương, tổ chức lực lượng chống lại quân của chúa Nguyễn đàng trong, tại khu vực Sông Gianh, Quảng Bình. Trong trận đánh này, Nguyễn Trọng Thưởng đã chiến đấu anh dũng và tử trận.
Để tưởng nhớ công lao của Nguyễn Trọng Thưởng, triều đình nhà Lê đã cho tổ chức quốc tang và đem thi hài của ông về an táng tại quê nhà.
Ngày 11 tháng 4 nhuận năm 1629, vua Lê Thần Tông đã ban chế ca ngợi công đức của Nguyễn Trọng Thưởng đối với đất nước và phong sắc cho ông tước: “Nguyên soái tổng quốc thanh đô vương, Thượng trụ quốc Trinh quận công” và đích thân vua Lê Thần Tông cùng với một số quan văn, võ trong triều đình về Thượng Xá để ban sắc và phong ông thêm chức Thái Bảo, cấp cho gia đình 300 mẫu lộc điền, cùng với đôi câu đối: “Sinh tắc tam quân tướng; Tử vi vạn cổ thần” có nghĩa là: “ Sông làm tướng mạnh giữa ba quân, chết làm thần thường trong vạn thuở” và giao cho nhân dân lập đền thờ phụng.
Ngoài bản sắc phong lụa quý hiếm trên, hiện nay tại nhà thờ họ Nguyễn Trọng còn có 2 bản sắc phong quý hiếm khác. Một sắc phong có niên hiệu Vĩnh Tộ thứ 3 (1621) phong cho Nguyễn Trọng Thưởng và một sắc phong có niên Đức Long nguyên niên (1929), phong cho cha của ông là Hoằng quận công Nguyễn Kế Hưng cùng với nhiều hiện vật quý như: câu đối, đại tự, long ngai, bài vị,….
Ông Nguyễn Văn Thanh, Trưởng Ban quản lý Di tích và Danh thắng Nghệ An cho biết: Nghệ An là một tỉnh có rất nhiều sắc phong hiện đang được lưu giữ ở các đền miếu và nhà thờ họ, nhưng đây là lần đầu tiên phát hiện ra bản bản sắc phong bằng gấm lụa đặc biệt quý hiếm và độc đáo như thế này. Cần phải có phương án bảo vệ các sắc phong, để lưu giữ cho muôn đời sau.


IV. Ảnh bài báo:





Ý tưởng chủ yếu từ bác Mạnh Cường- ^^

Thứ Bảy, 5 tháng 10, 2013

BÚT TÍCH CỦA MỘT DANH NHÂN XỨ ĐÔNG TẠI NGHỆ AN

Tác giả: Trần Tử Quang - thư viện tỉnh Nghệ An


Nằm nép mình sau trung tâm thương mại Đô Lương, ngay dưới di tích gốc cây Đa Chợ Huyện hiện nay đang lưu giữ một di sản quý báu, đó chính là những tấm văn bia cổ khắc ghi bút tích của một danh nhân kiệt xuất xứ Đông, một vị quan nổi tiếng trong lịch sử.

Tấm văn bia được nói đến mang tên “Lương Sơn huyện bi ký”. Trước đây những di sản này đặt ở nơi nào đến nay không ai còn biết. Chắc rằng trải qua biến cố thời gian nên di tích gắn với những tấm bia này không còn nữa. Theo một số người dân địa phương thì trước kia những tấm bia này nằm lăn lóc ngay trên con đường dẫn vào chợ. Sau này chính quyền các cấp đã đưa về đặt dưới gốc cây Đa chợ Huyện – nơi gắn với cuộc binh biến Đô Lương để thuận tiện trong việc giữ gìn bảo vệ.

Tấm bia tạc theo phong cách tạo hình thời Nguyễn: trán bia khắc hình “lưỡng long triều nhật”, xung quanh thân bia là hoa lá uyển chuyển và thanh thoát. Đặc biệt trên đỉnh bia lại tạc hình một đài sen làm tăng thêm vẻ sang trọng và thanh tao của những sự kiện được được nhắc tới trong văn bia cũng như tác giả soạn văn.

Bia có hai mặt đều khắc chữ Hán chân phương đặc trưng của thời Nguyễn sơ. Mặt trước bia có 14 dòng, phía trên lòng bia có chữ “Lương Sơn huyện bi ký”. Sau khi xem nội dung chúng tôi xác định tấm bia này trước kia được đặt tại nhà “Tư Văn” của huyện Lương Sơn xưa. Qua văn bia cho chúng ta thấy được truyền thống hiếu học, trọng lễ nghĩa của huyện Lương Sơn nói riêng và xứ Nghệ nói chung (tạm dịch): “Nay văn trị hưng thịnh, từ kinh đô cho tới tận làng xã không nơi đâu là không có trường học. Ở châu, ở huyện không nơi đâu là không có miếu thờ các bậc Tiên hiền. Đây chính là lúc phong nhã dấy lên, nhân tài phấn phát. Thật đúng là mảnh đất thanh danh, văn vật vậy”. Chính vì vậy không thể không xây dựng nhà Tư Văn để khuyến khích việc học hành và khẳng định quê hương văn vật phát triển, phong tục thuần hậu cũng chính là nhờ vào sự giáo hóa đó. Điều này cho thấy tinh thần trọng Nho học của nước ta dưới triều Nguyễn và tầng lớp trí thức đương thời. Và những sự kiện đó đều phải được khắc ghi lên bia đá để lưu truyền cho hậu thế: “Trước sau dòng nước như ánh mực vây quanh, bốn phương núi non như ngòi bút sừng sừng. Nước non trong trẻo tinh anh, cái tinh túy chính ở mạch Tư Văn này, cùng với núi sông muôn đời bất diệt. Bèn ghi lại sự việc này mà khắc vào đá”.

Văn bia này thuộc thể “ký”, cụ thể hơn là ký đình, đài, danh thắng. Đây một loại văn bản đặc biệt có nội dung tư tưởng và ý nghĩa xã hội rất sâu sắc và ý nghĩa. Hàng chữ cuối ở mặt trước tấm văn bia có ghi rõ: “Tứ Nhâm Thìn khoa đệ tam giáp Đồng tiến sĩ xuất thân, Trung Thuận đại phu, Hồng Lô tự khanh, Lãnh Nghệ An đẳng xứ địa phương Thừa tuyên bố chính sứ ty Bố chính sứ Đỗ Quang soạn” cho ta biết người soạn văn bia chính là Tiến sỹ Đỗ Quang – một danh nhân xứ Đông, một vị quan nổi tiếng trong lịch sử.

Đỗ Quang tên đầy đủ là Đỗ Tông Quang sinh Đinh Mão (1807) tại làng Phương Điếm xã Phương Hưng huyện Gia Lộc tỉnh Hải Dương. Ông sinh ra và lớn lên trong một gia đình dòng dõi thi thư lễ nghĩa Năm Nhâm Thìn niên hiệu Minh Mạng, ông thi đậu Tiến sĩ và được giữ chức Hàn lâm viện trực học sỹ biên tu, tham gia viết hai bộ quốc sử là “Đại Nam thực lục tiền biên” và “Ngọc điệp”. Ông là vị quan luôn chăm lo đời sống cho nhân dân, nhất là những người cùng khổ. Có lần ông đã tự ý giảm thuế cho những người nghèo nên đã bị thất thu 300 quan tiền và 100 lạng bạc. Vì việc này ông bị vua Tự Đức cách chức nhưng sau đó được minh oan và phục chức.

Tháng 9 năm 1858, Pháp đánh chiếm Đà Nẵng. Tháng 1 năm 1859 quân Pháp vây đánh thành Gia Định, quân triều đình thua chạy. Đứng trước nạn xâm lăng, Đỗ Quang đứng về phe chủ chiến. Tháng giêng năm 1860 triều đình cử ông vào nhận chức Tuần phủ Gia Định. Ông cùng Nguyễn Tri Phương hợp lực đánh giặc. Sau đó ông tiếp tục ở lại Gia Định cùng Trương Định tìm kế đánh giặc. Khi Trương Định được phong “Bình Tây đại nguyên soái” thì ông nhậm chức” Đốc biện quân lương” phụ trách tuyển mộ quân binh và quyên góp lương thảo.

Có lần ở chiến khu, Ông nghe tin vào đêm 16 tháng 12 năm 1861, một số dân binh đã tập kích đồn Pháp ở Cần Giuộc (thuộc Long An), gây cho đối phương nhiều thiệt hại nhưng quân ta hy sinh khoảng hai mươi người. Ông vô cùng cảm kính sự hy sinh anh dũng đó nên đã lập tức sai người đến nhờ cụ Đồ Nguyễn Đình Chiểu làm một bài văn tế để đọc tại buổi lễ truy điệu các nghĩa sĩ vừa mới hy sinh. Tác phẩm “Văn tế nghĩa sỹ Cần Giuộc” ra đời như thế. Suốt thời gian gần hai năm đầu của cuộc kháng chiến chống quân Pháp xâm lược, Đỗ Quang cùng Trương Định đánh thắng nhiều trận, tiêu diệt hơn 2000 quân Pháp. Trong lúc đó, triều đình Huế nhu nhược kí hòa ước 5/6/1862 dâng 3 tỉnh miền đông cho Pháp. Trương Định bị điều đi nhậm chức lãnh binh ở An Giang và Phú Yên, Đỗ Quang bị triều đình triệu về kinh thăng chức Tham tri bộ hộ cử đi nhậm chức tuần phủ Nam Định. Ông đã dâng sớ xin cáo quan về quê mở trường dạy học, nuôi mẹ già và sống cuộc đời thanh bần cùng xóm làng. Ông mất vào năm 1866 thọ 66 tuổi. Triều đình Huế đã truy tặng ông “Lễ bộ thượng thư” và đưa vào thờ “đình Hiền Lương”. Cảm mến đức tài của ông, nhân dân quê nhà đã lập văn tế và bài vị tôn thờ tại đình Phương Điếm. Mộ Tiến sỹ Đỗ Quang và đình Phương Điếm đã được nhà nước xếp hạng quốc gia ngày 5/9/1989.

Cuộc đời làm quan của ông nổi tiếng thanh liêm, chính trực, được nhân dân ca ngợi là bậc “dân chi phụ mẫu”. Ông lại nổi tiếng với tài thao lược và lòng yêu nước bởi ông là một trong những vị anh hùng đầu tiên đứng lên chống lại giặc Pháp xâm lược. Thời điểm soạn bài văn bia nói trên (1756), Tiến sỹ Đỗ Quang đang giữ chức Bố chính sứ tại Nghệ An. Trước đó trong khoảng những năm 1835 – 1847 ông đã từng giữ chức Tri phủ Diễn Châu. Trong thời gian dài làm quan tại Nghệ An ông đã để lại nhiều dấu ấn tốt đẹp trên mảnh đất này mà tấm văn bia ông soạn để ca ngợi giáo hóa, học hành tại huyện Lương Sơn là một bằng chứng cụ thể. Huyện Đô Lương nói riêng và tỉnh Nghệ An nói chung tự hào khi lưu giữ được bút tích và dấu ấn của một danh nhân kiệt xuất như Ông. 

Thứ Ba, 27 tháng 8, 2013

Đình Hoành Sơn












































Chuyện ông hoàng nhạc vịt

Ở xứ Annammite, lương 1 nhạc công dàn nhạc giao hưởng từ khoảng 3-5 triệu, thấp hơn bà bán nước chè ở ga Hàng Cỏ (chém đẹp của mình cốc trà chanh Nestea thêm nước hẩm và thìa đường). Ấy là của dàn nhạc "QUỐC GIA", lớn nhì Đông Nam Á. Mỗi năm không biết Dàn nhạc giao hưởng sáng đèn được mấy lần (như ảnh - xin lỗi là mình duy nhất được xem giao hưởng cũng tịnh nhìn đèn trên trần Nhà hát Nậy), nhưng hình như sau 1 đêm diễn họ được thù lao 600k đến 1 triệu.




Đoán chắc là 95% dân Việt như mình, đi nghe giao hưởng cũng chỉ nhìn trần Nhà hát xem đèn. Chả biết cái sonata với cái concerto là cái gỉ cái gì, không phân biệt vilon với viola thậm chí cả nhị cũng cò cưa kéo kéo chắc cũng giống nhau cả, rồi không biết cái ông mặc cái áo đuôi tôm múa cái đũa làm đếch gì mà ngắc ngư như ông say rượu, đơn giản còn chưa biết đến gõ, dây, hơi chứ đừng nói cung này, cung nọ, đô trưởng, la trưởng, la thăng hay kim tiến, ngực lép hay chính chủ. 


Mà mấy thứ đó, nghe đâu ở bên chốn tư bản giãy chết, bọn mũi lõ nó biết từ nhỏ. Cách đào tạo của nó, cũng như ta thấy mấy câu chuyện cụ Giáp vẫn chơi piano cho cụ Hà nghe, hay như chuyện ông giáo Tạ Bửu vẫn chơi violin trong khoảng không Bách Khoa rồi cụ giáo Nguyễn Thúc Hào kéo violin giữa núi rừng Thạch Thành trong những ngày chiến tranh ác liệt, và nhiều nữa... những lớp đi trước cụ Chín cả 2,3 thế hệ cũng được trang bị cho mình một kiến thức cơ bản, có thể chơi 1 nhạc cụ, đọc được bản nhạc...


Thế cho nên một 9, chứ đến 10 có nói nó vẫn chửi, nó vẫn xem là ngụy. Thậm chí, nói vô phép chứ Văn Cao sống lại khéo nó cũng đòi thay cả ... quốc ca. Vì nó là cái ngữ lắm tiền.

Mà tiền ấy, cũng do 95% Annammite mình cả.


Annam mình mà lên mạng, chém gió thì thôi rồi. Cho nên em Phụng Hoàng thừa cơ cho một bài, khối thằng đòi chốc mả cha "cái thằng Nguyễn Ánh 9".


Đất nước nó vậy, cụ 9 đừng buồn. Con đã nói, Văn Cao sống lại mà nói thế, nó còn cho ra bã.


Người thông minh, xem đó là một ý kiến cá nhân cần xem xét (cô quả thánh thiện, xứng đáng quá khi được gọi là con họa my của làng nhạc). Bét ra cũng như thế, không cứ tung hê lên tất cả.



Bạn mình nó nói, Mẽo có đưa tiền sang Phù Tang, nó làm được tàu ngầm bơi bên này sang bên kia đại dương, làm con robot như người, đưa sang Kimchicủcải nó thành con Rồng, đơn cử cũng cái máy gàu ngoạm Hyundai trên xứ Annam chỗ nào cũng thấy. Nhưng nếu Mẽo nó là đồng minh, ta vẫn cứ cưa bom, làm tàu ngầm kiểu Thái Bình. Bản chất nó là như thế, nên không thay đổi được.

Thứ Tư, 7 tháng 8, 2013

MỘT SỰ XÂM THỰC VĂN HÓA VIỆT

Hình ảnh sư tử trong điêu khắc cổ Việt Nam

Sư tử là một loài không có ở Việt Nam, tuy nhiên hình tượng sư tử đã xuất hiện trong điêu khắc cổ, là sự pha trộn của những hình tượng cá sấu, lân, nghê, sư tử và trở thành mô típ quen thuộc tại các chùa chiền miền Bắc. Trong kiến trúc đền, chùa truyền thống Việt không có việc đặt sư tử đá. Hình ảnh sư tử đã được cha ông chúng ta tưởng tượng từ những loài vật khác và Việt hóa thành linh vật có trí tuệ, đứng ở vị trí tầng trên để kiểm soát tâm hồn người hành hương trước khi vào lễ bái.

Điều đáng quan tâm hiện nay đó là tại các công trình văn hóa của ta đã sao chép y nguyên hình ảnh con sư tử đá Trung Quốc và đặt chúng trong các không gian thuần Việt. Đối với người Trung Quốc, sư tử đá đầu tiên được dùng để canh giữ mộ, sau này, những người thợ đã tạo nên hình ảnh sư tử uy nghiêm, mạnh mẽ, đầy sức sống, đặc biệt là những con sư tử ở tư thế quỳ. Chính vì thế chức năng canh giữ mộ của sư tử đã được bổ sung thêm việc xua đuổi tà ma, tiêu trừ tai họa, mang lại phước lành cho gia chủ nên sư tử được đặt trong cung cấm, trước dinh thự của quan lại. Thông thường, việc đặt sư tử đá Trung Quốc thường có một đôi: con đực đặt bên tả, chân phải đặt lên khối cầu; con cái đặt bên hữu, chân đè lên con sư tử con đang đùa giỡn. Đó là những hình ảnh mang tư tưởng của người Trung Quốc, với ước vọng hóa giải tà khí, thu hút tài vận. Cặp sư tử cũng thể hiện sự hài hòa về âm dương, bao gồm cả quyền lực của con đực để bảo vệ ngôi nhà và sự lo lắng cho nội bộ gia đình của sư tử cái. Sư tử đá bắt gặp ở nhiều nơi của Trung Quốc từ hàng nghìn năm nay.


Sư tử đá ở Tượng đài Binh biến Đô Lương

Sư tử đá ở Đền thờ Liệt sĩ Truông Bồn


Nhiều cặp sư tử đá đặt nhầm chỗ ở chùa Một Cột, đền Đô... đã bị giới nghiên cứu văn hóa phê bình dẫn đến việc phải bỏ đi, trả lại không gian vốn có. Tại Nghệ An, ở những công trình văn hóa cũng không hiếm những cặp sư tử đá tạc theo khuôn mẫu sư tử Trung Quốc dù đó là di tích lịch sử văn hóa đã được công nhận hay là những di tích mới được phục dựng. Những linh vật này thường do doanh nhân hay các cơ quan doanh nghiệp cung tiến vào đền, chùa. Tuy nhiên, việc công đức tùy tiện lại không xét đến các yếu tố văn hóa truyền thống đã khiến cho những công trình văn hóa tồn tại hàng trăm năm bị xâm thực bởi các yếu tố phi văn hóa Việt. Ngay tại đền Quả - một trong “bốn ngôi đền thiêng nhất xứ Nghệ”, là di tích lịch sử quốc gia tại huyện Đô Lương được một doanh nhân cung tiến một đôi sư tử đá có kích thước khá lớn. Việc đặt hai con sư đá này không phù hợp với cảnh quan chung của đền, hơn nữa hai con sư tử này lại cùng giống đực, không tuân thủ theo quy luật âm - dương khi bài trí. Hay như tại tượng đài Binh biến Đô Lương mới được cải tạo cũng được bố trí thêm hai con sư tử bằng đá trắng. Điều đáng nói là đặt linh vật ở những di tích lịch sử lâu đời như đền, chùa còn hợp lý, đằng này những con sử tử Trung Quốc này lại chiễm chệ ở cả những công trình văn hóa thời hiện đại. Không hiểu việc đặt sư tử tại các công trình này có ý nghĩa gì? Sở văn hóa và ban quản lý di tích danh thắng cùng các chuyên viên văn hóa có ý kiến như thế nào? Nhưng rõ ràng đây là sự bắt chước hoàn toàn, không phù hợp với lối điêu khắc, thẩm mỹ được sáng tạo nên trên cơ sở hiểu biết về văn hóa của dân tộc.



Hiện nay, nhiều trụ sở cơ quan, doanh nghiệp tại Nghệ An cũng bài trí một cặp sư tử trước cổng với hi vọng xua đuổi khí xấu, thu hút tiền tài. Tuy nhiên, do không hiểu về ý nghĩa của việc bài trí cho nên có nhiều nơi, hai con sư tử đá đều là con đực hoặc đều là con cái. Có nơi lại hoán đổi vị trí, không đúng với sắp đặt truyền thống là con đực bên tả, con cá bên hữu. Đó cũng là một ví dụ cho thấy cần một sự hiểu biết nhất định về văn hóa. 



Nhiều công trình văn hóa, di tích lịch sử - văn hóa đang được phục hồi, tôn tạo, trong đó phải kể đến sự đóng góp từ nguồn xã hội hóa, công đức của các doanh nghiệp. Tuy nhiên, trước khi phục dựng cần đánh giá việc đưa một kiến trúc ngoại lai vào hay không, bên cạnh đó cũng cần quản lý việc công đức các công trình, vật phẩm hoàn toàn vay mượn bên ngoài. Sự lệ thuộc về văn hóa là một mối nguy lớn bởi vì chúng ta có sẵn một nền văn hóa, điêu khắc, kiến trúc phong phú, không cần phải vay mượn để dẫn đến vong bản. Mà vong bản là mối nguy cho những giá trị quý báu và cho cả vận mệnh đất nước, dân tộc. Và quan trọng nhất đó là sự sao chép hoàn toàn từ hình mẫu của sư tử Trung Quốc, không hề mang bản sắc Việt Nam.


Bài đăng trên báo Nghệ An - Chủ nhật ngày 04 tháng 8 năm 2013