Thứ Bảy, 28 tháng 4, 2012

Bia Tiến sĩ ở cổng chùa Viên Quang

Những bức ảnh đặt tại chùa Viên Quang, huyện Nam Đàn. Có một tấm bia, hình như là bia Tiến sĩ - ghi danh những tiến sĩ từ thời Lê đến Nguyễn tại vùng xã Nam Thanh, huyện Nam Đàn.
Tấm bia có lẽ bị bom đánh, nên bị nứt đôi. Trong chùa còn có khánh đá rất lâu đời nhưng cũng đã bị nứt.


Một số thông tin về các tiến sĩ trên bia có:
- Võ Duy Dương, sinh năm 1658, đỗ đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân năm Lê Chính Hòa ất sửu (mùa thu). Lê Duy Dương người xã Thanh Tuyền, huyện Nam Đường nay là xã Nam Thanh, huyện Nam Đàn. Làm quan đến chức Đô ngự sử, nhưng vì ngay thẳng can gián vua nên bị truất làm tư huấn. Năm 36 tuổi lấy cớ đau yếu, ông xin từ quan về quê sinh sống, mở trường dạy học, mất năm 38 tuổi.
- Bùi Hữu Nhậm, (1676-1740), người xã Thanh Tuyền, huyện Nam Đường, nay là xã Nam Thanh, huyện Nam Đàn. Đỗ đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân khoa Canh Thìn, niên hiệu Chính Hòa 21 (Lê Hy Tông), làm quan đến cấp sự trung. Khi làm quan nổi tiếng cương trực, khi trí sĩ về quê dạy học.
- Bùi Hữu Tụy (1867-?), người xã Thanh Thủy, huyện Nam Đàn, nay là xã Nam Thanh, huyện Nam Đàn, đệ tam giáp đồng tiến sĩ.
Và nhiều tên danh nhân đỗ đạt khác.
Như vậy có thể thấy đây là bia nêu danh các vị đỗ đạt của xã Nam Thanh, Nam Đàn.

Trong chùa Viên Quang còn có mộ của Tiến sĩ Võ Duy Dương và Bùi Hữu Nhậm, bia hai tướng quân do Nguyễn Thức Tự soạn. Nội dung bia như sau:


Phiên âm:    

Vũ, Bùi nhị vị tướng công bi

Ngô xã Nghĩa Trai tướng công, tự Duy Dương, tính Vũ, thế khoa hoạn. Công, Chính Hòa Tân Dậu khoa Giải nguyên, Ất Sửu khoa Tiến sĩ. Ngô tổng khoa giáp công kỳ hao thỉ dã. Sĩ chí Thanh Hoa đạo Ngự sử. Tốt niên tam thập lục. Kim phụng phong Phúc thần. Hương cống Duy Thám, Sinh đồ Duy Bá công lĩnh dẫn dã.

Bùi tướng công, tự Hữu Nhậm, Giải nguyên Bùi Hữu Chí chi tử, Hương cống Bùi Trần Hiến chi huynh dã. Chính Hòa Canh Thìn khoa Tiến sĩ, lịch sĩ Sơn nam Giám sát ngự sử, Thanh Hoa Đốc đồng thăng Hiến sát sứ. Phụng sai đốc trấn. Cao tốt vu quan, tặng Tham chính. Kim tôn tộc phồn diễn. Tú tài Bùi Hữu Văn , Bùi Hữu Tụy giai kì nội tôn dã.

Duyệt phổ kỷ nhị bách niên vu tư hỹ. Kim hạ ngô xã thân sắc kì hào bốc trạch phụng song cải vũ Trù Sơn chi bắc, giang tân nam thiết, dĩ phong thạch thỉ nhi chúc nhi, nhĩ phất phong dã. Viên bái, bình nhi cẩn chí viết: Bất mẩn giả tinh, bất hủ giả danh, nhị công chi phù một tồn tử sinh trù sơn giai thành, thần quan huỳnh huỳnh kỳ cảnh nhiên vu thương minh giả. Khải tại mộ chi minh bất minh.

Thành Thái tứ niên cửu nguyệt nhị thập nhật
Đông Khê Sơn phòng sứ Nguyễn Thức Tự cung soạn
Mậu Tý khoa Cử nhân thăng Biên tu lĩnh Huấn đạo Bùi Danh Hòa phụng cúng.
Bản xã văn thân hòa lí đồng bái chí.


Dịch nghĩa: 

Văn bia hai tướng công họ Vũ và họ Bùi

Nghĩa Trai tướng công của xã ta tự Duy Dương, họ Vũ, dong họ đời đời khoa hoạn. Ông đậu Giải nguyên năm Chính Hòa Tân Dậu (1681), Tiến sĩ khoa Ất Sửu (1685). Khoa giáp của tổng ta ông nổi tiếng đầu tiên, như mũi tên, tên chưa vút tới đã nghe tiếng mũi tên bay. Làm quan tơi chức Giám sát ngự sử đạo Thanh Hoa. Ông qua đời năm 36 tuổi. Nay được phong Phúc thần. Hương cống Vũ Duy Thám, sinh đồ Vũ Duy Bá là con cháu của ông.

Bùi tướng công, tự Hữu Nhậm, là con của Giải nguyên Bùi Hữu Chi; Anh của Hương cống Bùi Trần Hiến. Tiến sĩ khoa Chính Hòa Canh Thìn (1700). Làm quan đến Giám sát ngự sử Sơn Nam, Đốc đồng Thanh Hoa thăng Hiến sát sứ, phụng Đốc trấn. Tạ thế khi đương quan, tặng Tham chính. Nay dòng tộc của ông phồn thịnh. Tú tài Bùi Hữu Văn, Bùi Hữu Tụy đều là nội tôn (Bùi Hữu Tụy (1867-?), cử nhân khoa kỷ Dậu (1909), Tiến sĩ khoa Canh Tuất (1910), làm quan: Thừa chỉ, Lang trung Bộ Lại).

Trải đã 200 năm, mùa hè năm nay thân hào của xã bàn định chọn nơi song cải (dời mộ của hai vị) về phía đông bắc núi Chùa (chùa Viên Quang), phía đông nam bậc đá bến Rào (Rào băng, phát nguyên từ dãy núi Đại Huệ, nay đã được ngăn thành Đập Rào Bâng), lấy đá ong xếp thành đàn mộ để khỏi mất. Nay bèn chập tay cúi lạy, xin ghi tạc rằng: Tinh thần không đổ tên tuổi không nát. Hai ông như hoa phù dung: mất còn, chết sống đều là phúc thần ở núi Chùa, là vị thần lấp lánh ánh sao, mênh mông như biển cả. Há chi ở mộ có bia hay không có bia.

Ngày 20 tháng 9 năm Thành Thái thứ tư (1892)
Đông Khê Sơn phòng Nguyễn Thức Tự (1841-1923) kính cẩn soạn bài này
Mậu Tý khoa(1888) Cử nhân thăng Biên tu lĩnh Huấn đạo Bùi Danh Hòa cúng bia
Bản xã văn thân hào lý đồng bái ghi tạc.







Thứ Sáu, 27 tháng 4, 2012

Đặt mình trong vị trí người dân Văn Giang


Chính quyền Hưng Yên nói họ đã không sai khi tổ chức cưỡng chế 70 hecta đất của 160 hộ dân Văn Giang. Chưa có cơ sở để tin rằng Thủ tướng sẽ nói quyết định này của Hưng Yên là sai như ông đã làm với chính quyền Hải Phòng. Nhưng, cho dù bên thua trận là nhân dân thì hình ảnh hàng ngàn cảnh sát chống bạo động, “khiên-giáo” tua tủa, đối đầu với vài trăm nông dân cuốc xẻng trong tay không chỉ phản ánh mối quan hệ Chính quyền – Nhân dân hiện nay mà còn có tính dự báo không thể nào xem thường được.
Làm luật cũng là Chính quyền, giải thích luật cũng là Chính quyền, chỉ có người dân là thiệt. Kể từ năm 1993, Luật Đất đai theo tinh thần Hiến pháp 1992 đã được sửa đổi 5 lần. Chỉ riêng các điều khoản thu hồi, nếu như từng được quy định khá chặt chẽ trong Luật 1993, đã trở nên rắc rối và dễ bị lũng đoạn hơn trong Luật 2003.
Điều 27, Luật Đất đai 1993, quy định rằng: “Trong trường hợp thật cần thiết, Nhà nước thu hồi đất đang sử dụng của người sử dụng đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng thì người bị thu hồi đất được đền bù thiệt hại”. Điều Luật tiếp theo còn đưa ra những điều kiện ràng buộc nhằm tránh sự lạm dụng của Chính quyền. Luật sửa đổi 1998 gần như giữ nguyên tinh thần này. Nhưng, đây là thời điểm mà các đại gia bắt đầu phất lên nhờ đất. Tiến trình ban hành chính sách bắt đầu có sự can dự của các nhóm đặc lợi, đặc quyền.
Luật Đất đai 2003 đã đặt rất nhiều rủi ro lên người dân khi điều chỉnh mối quan hệ này thành một chương gọi là Mục 3. Trong phần “Thu hồi đất”, Luật gần như đã đặt những mục tiêu cao cả như “lợi ích quốc gia” ngang hàng với “lợi ích của các đại gia”. Điều 39 định nghĩa những “lợi ích quốc gia” chủ yếu là những “dự án đầu tư có nhu cầu sử dụng đất phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt”. Dự án Ecopark đã được Thủ tướng phê duyệt, nếu chiểu theo Luật 2003, việc nông dân Văn Giang không chịu bị thu hồi nên bị cưỡng chế là hoàn toàn phù hợp với Điều 39.
Việt Nam không có một tối cao pháp viện để nói rằng Luật 2003 ở những điều khoản nói trên đã vi Hiến; Việt Nam cũng không có tư pháp độc lập để nông dân có thể kiện các quyết định của chính quyền. Chỉ vì không có niềm tin Hệ thống có thể mang công lý đến cho mình mà gia đình anh Đoàn Văn Vươn, hôm 5-1-2012, và 160 hộ dân Văn Giang, hôm 24-4-2012, phải chọn hình thức kháng cự chịu nhiều rủi ro như thế.
Cho dù “đất đai thuộc sở hữu toàn dân”, người dân chỉ có các quyền của người sử dụng. Nhưng, sở dĩ ai cũng gắn bó với mảnh đất mà mình đang cắm dùi là bởi: Đất ấy không phải được giao không từ quỹ đất công như những quan chức có đặc quyền, đặc lợi; Đất ấy họ đã phải mua bằng tiền; Đất ấy họ phải tạo lập bằng nước mắt, mồ hôi; Đất ấy là của ông cha để lại.
Không thể nói một thứ có thể quy đổi thành tiền mà không phải là tài sản. Không thể bỗng dưng một khối tài sản có khi phải đánh đổi cả cuộc đời lại có thể bị thu hồi. Không thể nhìn đất ấy đang làm lợi cho các đại gia qua quyết định hành chính của một cấp chính quyền, thường chỉ là, hàng huyện.
Đất đai của các doanh nghiệp, của nông dân, vì thế, phải được coi là “tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức”. Trong bài “Ba khâu Đột phá của Thủ tướng” * tôi có đề nghị đa sở hữu hóa đất đai, công nhận quyền sở hữu đã có trên thực tế của người dân. Nhưng, sau gần một năm, tôi nghĩ là, những người lạc quan chính trị nhất cũng không còn hy vọng ấy. Cho dù chưa có những thay đổi về mặt ngôn từ thì việc tuân thủ Hiến pháp 1992 là điều không nên bàn cãi. Điều 18 Hiến pháp 1992, nói: “Nhà nước giao đất cho các tổ chức và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài”. Nghĩa là việc giao đất cho dân là vô thời hạn. Khi bình luận về các điều khoản quy định thời hạn giao đất, chính một trong những tác giả chính của Luật Đất đai 1993, ông Tôn Gia Huyên, cũng cho rằng, Luật đã có “một bước lùi so với Hiến pháp”.
Hiến pháp đã cho “chuyển quyền sử dụng” có nghĩa là công nhận quyền ấy như một tài sản của người dân. Nghĩa là, thay vì “thu hồi đất” như các quy định trong Luật Đất đai, “trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh và vì lợi ích quốc gia”, Nhà nước nên chiểu theo Điều 23 của Hiến pháp mà “trưng mua, trưng dụng”. Luật trưng mua – trưng dụng cũng nên định nghĩa minh bạch “lợi ích quốc gia” để phân biệt với “lợi ích của các đại gia”. Và khi trưng mua thì nên lấy giá giao dịch trên thực tế chứ không phải là giá hành chánh được nghĩ ra trong các phòng máy lạnh.
Với những dự án lớn, đụng chạm xã hội, như Ecopark, cho dù là tư nhân đầu tư, thì cũng nên đòi phải minh bạch trong từng bước đi. Phải buộc kiểm toán để thấy rằng, đất đai của nông dân chiếm bao nhiêu phần trăm trong tổng vốn đầu tư và mời nông dân tham gia bằng cách góp vốn và chia lãi theo tỉ lệ vốn bằng quyền sử dụng đất. 
Vì sao trong trường hợp vì lý do quốc phòng, an ninh và lợi ích quốc gia mà Hiến pháp vẫn yêu cầu phải trưng mua theo giá thị trường? Vì sao các nhà nước của dân vẫn đền bù thỏa đáng cho các trường hợp rủi ro ví dụ như bồi thường cho ai đó đang đi dưới hè đường bị một cành cây rơi trúng. Cái cành cây ấy, mọc ở ven đường, mang lại phúc lợi bóng mát cho hàng vạn con người nên khi nó gãy không thể để một người chịu thiệt.
Người dân Văn Giang không chống lại dự án Ecopark, người dân chỉ không đồng ý với giá và cách mà Chính quyền đền bù. Nếu con số 90% nông dân Văn Giang đã nhận đền bù là đúng thì cũng không thể coi 10% phản ứng là sai. Trước anh Đoàn Văn Vươn đã có những người cam chịu lệnh thu hồi đất của chính quyền Tiên Lãng.
Đừng nghĩ những người chân lấm tay bùn không biết tính toán. Đừng nghĩ nông dân không biết xót xa khi nhận chưa tới 150 nghìn đồng/ m2 rồi nhìn đất của họ được đem bán với giá hàng chục triệu đồng. Chính quyền nói, “chỉ có 30% diện tích được phục vụ vào mục đích kinh doanh, tức là phần chủ đầu tư làm nhà để bán, còn lại là diện tích đất dành cho phát triển giao thông, công trình phúc lợi, cây xanh”. Tất nhiên phải có phần hạ tầng và cây xanh này thì người ta mới đến Ecopark mua nhà. Nhưng, cho dù nó thực sự là phúc lợi thì cũng không thể đòi hỏi 1.500 hộ dân ở Văn Giang phải chịu thiệt cho các đại gia đến hưởng.
Sáng 17-4-2009, khi bị cưỡng chế thu hồi đất, chính người thân của Thủ tướng đương nhiệm cũng đã kháng cự *. Cho dù 185 hecta đất cao su mà những người này có được ở huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương, nhẹ nhàng hơn cách mà thường dân có được vài nghìn mét ruộng nương. Đất ấy họ được địa phương bán với giá bình quân 50 triệu/ hecta và sau đó khi thu hồi lại, Bình Dương đã đền bù mỗi hecta gần một tỉ. Tôi nhắc lại điều này chi để đề nghị tất cả ai quan tâm nên đặt mình trong vị trí của người dân Văn Giang. Từ các quan chức ra lệnh cho đến những cảnh sát đã đánh vào đầu dân đều phải nghĩ đến ngày đất đai của nhà mình bị Chính quyền cưỡng chế.
Đừng nghĩ Đoàn Văn Vươn hay Văn Giang là đơn lẻ. Không nên coi một chính sách luôn giữ kỷ lục trên dưới 80% tổng số người khiếu kiện trong suốt hơn 20 năm qua là không có gì sai. Cho dù quyết tâm cưỡng chế 160 hộ dân ở Văn Giang có thể chỉ vì lợi ích của một số cá nhân; có thể sau thất bại trong vụ Đoàn Văn Vươn, Chính quyền muốn cứng rắn để dập tắt khát vọng đòi đất của những nông dân muốn noi gương anh Vươn. Thì, hình ảnh cuộc cưỡng chế hôm 24-4-2012 đã trở thành một vết nhơ trong lịch sử. 
Một chế độ luôn lo sợ mất ổn định không nên nuôi dưỡng quá nhiều những mầm mống đang làm mất ổn định. Một chế độ rất sợ các thế lực thù địch không nên tạo quá nhiều thù địch ngay chính trong lòng mình. Đất nước này tao loạn quá nhiều rồi, hơn ai hết người dân cũng cần ổn định.    
H.Đ.
Nguồn: Osin Facebook

Thứ Năm, 26 tháng 4, 2012

Huyện Văn Giang thực hiện quyết định cưỡng chế trái luật


Huyện Văn Giang thực hiện quyết định cưỡng chế trái luật
Thứ Tư, 25/04/2012-8:54 AM

Trong cuộc họp báo ngày 23-4-2012, ông Bùi Huy Thanh, Chánh Văn phòng UBND tỉnh Hưng Yên cho biết ngày 24-4 sẽ tổ chức cưỡng chế tại xã Xuân Quan để bàn giao đất cho chủ đầu tư và đề nghị các nhà báo không đến khu vực cưỡng chế.

Ngày 24-4-2012, chúng tôi đến xã Xuân Quan, huyện Văn Giang (Hưng Yên), từ xa đã thấy nhiều người dân đứng trên đê nhìn về khu vực cưỡng chế. Hỏi thăm đường vào, những người dân nói: Công an không cho vào đâu. Đi theo đường người dân chỉ, chúng tôi gặp một toán cảnh sát cơ động (CSCĐ) chắn đường, hỏi giấy tờ. Tôi xuất trình thẻ nhà báo, đề nghị CSCĐ cho vào khu vực cưỡng chế chụp ảnh. Các chiến sĩ không cho vào, tôi hỏi: Ai là chỉ huy cao nhất ở đây cho tôi gặp? Một cảnh sát dáng vẻ chỉ huy, có cảnh hàm nhưng không đeo biển hiệu ra tiếp. Tôi nói ngắn gọn: Theo Luật báo chí, các nhà báo được quyền chụp ảnh mọi nơi trên lãnh thổ nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trừ những khu vực quân sự, bí mật quốc gia. Đây là cưỡng chế công khai, theo quyết định hành chính không đóng dấu “mật”, đề nghị anh để tôi vào. Người cảnh sát bảo tôi đứng chờ, anh báo cáo cấp trên xong sẽ trả lời. Đợi quá lâu không thấy người cảnh sát quay lại tôi quay ra gặp nhân dân đang đứng bên đường. Một người dân nói: Bác đi theo em, chúng em dẫn bác đi chụp ảnh. 

Theo chân người dân, chúng tôi rẽ sang đường khác nhưng vẫn bị cảnh sát bám theo ngăn cản, không cho vào. Ngồi nghỉ trong nhà dân một lúc, những người dân khác đến dẫn chúng tôi vào làng. Họ bảo: Các bác thay quần áo rồi đi theo em. Chúng tôi mượn tạm quần áo người dân đưa cho, thay tại chỗ, gửi máy ảnh cho dân giữ hộ, chỉ mang theo máy ảnh du lịch cỡ nhỏ và đi theo người dẫn đường. Vượt qua hai điểm gác của cảnh sát cơ động, chúng tôi luồn lách qua mấy bụi gai đến một nhà dân sát khu vực cưỡng chế. Vào nhà xong, chủ nhà đóng cửa dẫn chúng tôi lên tầng gác. Trên sân thượng có mấy người dân đang nhìn vào khu cưỡng chế, gương mặt họ đầy vẻ đau buồn. Tì máy ảnh vào vai người đứng trước tôi chụp liền mấy kiểu, rồi lại theo người dẫn đường trở ra. Trên đường đi, tiếng loa oang oang nói việc cưỡng chế theo quyết định của Phó Chủ tịch UBND huyện Chu Quốc Hiệu và Chủ tịch UBND huyện Đặng Thị Bích Thuỷ. Trên báo Người cao tuổi số 47, ra ngày 20-4-2012 chúng tôi đã có bài “Ra quyết định cưỡng chế trái luật”, trong đó chỉ rõ quyết định cưỡng chế của UBND huyện Văn Giang là hoàn toàn trái pháp luật hiện hành. Theo Luật đất đai, chỉ những dự án phục vụ quốc phòng, an ninh…nhà nước mới thu hồi đất, trình tự thu hồi được quy định rõ trong luật. Những dự án không thuộc nhóm này, như dự án Ecopark thì Nhà nước không thu hồi đất, mà chỉ đứng ra làm trọng tài để nhà đầu tư thoả thuận với dân. Lẽ tất nhiên, thoả thuận đền bù dân giá cao thì nhà đầu tư lãi ít, thoả thuận đền bù giá thấp thì nhà đầu tư lãi nhiều. Ở đây UBND huyện lại đứng ra cưỡng chế, lấy đất giao cho chủ đầu tư, hoàn toàn không xem quy định của Luật đất đai có tí giá trị nào.
Nếu hỏi người dân có đồng tình với việc cưỡng chế trái luật này hay không thì tôi tin chắc không ai đồng tình. Cũng có nghĩa là UBND huyện Văn Giang không đạt được “sự đồng thuận của nhân dân” theo chỉ đạo trong Thông báo 168/TTCP-V4 ngày 26-1-2007 của Thanh tra Chính phủ .
Ngọc Phi
Nguồn: Người Cao tuổi. (Link đã bị khóa, bài viết không còn tồn tại nữa).

Cưỡng chế đất đai ở Hưng Yên nhiều hệ lụy ?


Những hình ảnh mới nhất về cuộc tổ chức cưỡng chế của chính quyền Hưng Yên đối với các hộ dân ở xã Xuân Quan, huyện Văn Giang vào ngày 24/4/2012 có lẽ không ít tính biểu dụ để người xem có thể tự hình dung ra những hình ảnh chưa xuất hiện, nhưng thật dễ dàng phát lộ vào một thời điểm nào đó. 
Cụ ông Nguyễn Ngọc Bính trên diện tích vườn sanh vừa bị cưỡng chế. Phía xa là một phần khu đô thị Ecopark - khu đô thị sinh thái lớn nhất miền Bắc. Ảnh: Nguyễn Hưng - Báo điện tử VnExpress.net


Nếu trong các cuộc khiếu tố đông người gần đây ở Hà Nội, trong tay người dân khiếu kiện chỉ là đơn thư, biểu ngữ và cờ Tổ quốc, thì đối mặt với con số hàng ngàn cảnh sát cơ động được huy động một cách ráo riết và bài bản theo chiến thuật tác chiến một cách kinh ngạc, phần lớn người dân xã Xuân Quan lại mang theo bên mình họ hoặc cuốc xẻng, hoặc gậy gộc, hoặc lưỡi hái. Và dù chẳng có ai đi xe máy, nhưng nhiều người vẫn rất nghiêm túc tuân thủ luật giao thông đường bộ với mũ bảo hiểm - một kiểu “trang phục” không kém thua cảnh sát cơ động.

Để thực hiện chiến dịch cưỡng chế, lấy “đất sạch bóng dân” phục vụ cho dự án Khu đô thị - thương mại - du lịch Văn Giang (Ecopark), trong khi chưa hề giải thích những nghi vấn mà báo Người Cao Tuổi đã nêu về “Ra quyết định cưỡng chế trái luật”, UBND huyện Văn Giang đã dấn một bước sâu đậm hơn khi tiếp tục làm sâu sắc mối nghi ngờ đó.

Nhưng lần này, có lẽ rút kinh nghiệm thời sự từ vụ việc Đoàn Văn Vươn ở huyện Tiên Lãng (Hải Phòng), tỉnh Hưng Yên và huyện Văn Giang đã huy động một cách quy mô lực lượng Công an, Cảnh sát cơ động và Dân phòng.
Nhưng lựu đạn cay bốc khói và dùi cui vung lên cũng đã quá đủ ấn tượng trên cánh đồng Xuân Quan…

Điều gì đang xảy ra vậy? Tiên Lãng chưa qua, Xuân Quan đã đến. Một lực lượng hùng hậu của cơ quan thi hành pháp luật lại đi bảo vệ cho một dự án tư nhân với nhiều khuất tất chưa được làm rõ? “Chi phí cưỡng chế” do ai gánh chịu - từ tiền ngân sách và đó là tiền đóng thuế của nông dân. Hay lại bởi cái gọi là “dịch vụ hỗ trợ thi công” của chủ đầu tư mà đã từng hiển hiện ở Cần Thơ?

Nhiều tiếng nói đầy phẫn nộ và phẫn uất bật lên từ những nông dân áo mộc “Các anh đi bảo vệ cho ai? Bảo vệ cho những kẻ cướp đất của cha mẹ các anh à?”, đã khiến cho một số cảnh sát và nhân viên an ninh dường như phải quay mặt đi.

Ai đang đối đầu ai? Những gốc rễ sâu xa và cay đắng nào đã khiến cho tình thế trở nên bi thiết đến mức như hiện nay? Thực tế mà chúng ta đang chứng kiến đã xảy ra không phải chỉ một lần trên đất nước này, không phải chỉ tại một địa phương. Nhưng những gì đã dẫn tới hệ quả, hay nói đúng hơn là hậu quả của ngày hôm nay, phải được bắt nguồn từ một quá khứ, vào lúc mà người nông dân không nhìn thấy tương lai.

Quá khứ như thế đã dẫn tới điều chắc chắn phải xảy ra là nhiều đoàn người rồng rắn, hết ngày này đến tháng nọ đội đơn trên đầu đi thưa kiện ở các cơ quan công quyền. Khi mà mọi việc trở nên không đi đến đâu, khi mà tình thế trở nên tuyệt vọng thì người dân chỉ còn độc một hy vọng cuối cùng: làm thế nào và bằng cách nào đó phải giữ cho được mảnh đất trồng cấy cuối cùng của gia đình mình. Bởi nếu rời khỏi hoặc bị buộc phải rời khỏi mảnh đất ấy, trong tay họ sẽ chỉ còn trơ trọi liềm hái và búa đục - những công cụ sản xuất sẽ chỉ còn một giá trị hoài niệm nào đó!

Cả ngàn nông dân ra mặt phản ứng với chính quyền hoàn toàn không phải là một con số đáng coi thường. Nhất là khi những nông dân này lại đang chất chứa trong lòng một nung nấu giành giật cho được công lý và công bằng, cho quyền lợi mưu sinh thiết thân của họ và con cái họ.

Dù sao, Ecopark ở Hưng Yên cũng có một tác dụng phụ là làm cho câu chuyện về cá nhân Đoàn Văn Vươn mau chóng trở nên lạc hậu, trong khi được thay thế bởi một hình ảnh sống động, chủ động và mang tính “công xã” hơn nhiều. Thật rõ ràng, con số ngàn người biểu tình về đất đai ở Xuân Quan đã dễ dàng được nhân gấp vài ba lần từ sự tham gia tự nguyện của người dân Dương Nội của Hà Nội hay những địa phương khác. Vả lại, yếu tố công xã này chỉ thêm một lần nữa chứng minh cho sự lợi hại của phương pháp luận đấu tranh bằng tập thể, và hơn nữa là một tập thể được tổ chức chặt chẽ.

Giờ đây, chính các chính quyền địa phương và hệ lụy tất yếu về hệ quả công xã của người dân đang làm mờ nhạt đáng kể những chỉ đạo của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, kể từ thời điểm ông quan tâm chỉ đạo đến vụ Tiên Lãng. Cũng bởi, điều mà nhiều người thật sự âu lo cho hoàn cảnh ở đất nước ta là Tiên Lãng đã mang tính tiền lệ.

Vụ việc cưỡng chế Ecopark chưa chấm dứt, nhưng đã có thể hình dung được hậu quả của nó: khi những người nông dân đã không còn quá quan tâm đến hậu quả xung đột với lực lượng cưỡng chế hay hậu quả pháp lý trước tòa án các cấp đối với bản thân họ!.

Nhìn lại và đánh giá ở góc độ quyền lợi của người nông dân có được bảo vệ không? đất nông nghiệp bị lấy hết làm khu đô thị mà trên cái đất nước này đã mọc ra bao nhiêu khu đô thị "kiểu ấy" ? Đầu tư ư ? lợi nhuận ư? bằng nguồn vốn nào ? mà kinh doanh kiểu gì ? để từ đất đền bù cho nông dân với vài chục triệu một sào ? Một vòng vo quay biến thành đất "dự án, đất đô thị " phân lô bán nền cho chính người dân chúng ta với mức lãi khủng khiếp gấp tới hàng ngàn lần ? Thử hỏi cơ chế, chính sách, rồi hậu quả của  những sự việc này có còn sự công bằng và bảo vệ nông dân nữa không? Rồi hệ lụy người dân mất đất còn lại cái cuốc, cái cày không thì làm gì để sinh sống và ổn định gia đình ? thế là xã hội lại có thêm nhiều người mất việc, bất ổn .....? Liệu bao giờ chấm dứt được những vụ việc như thế này.
Đô thị ...., thành phố...., Mọc lên khắp đất nước ... Rồi bỏ hoang hàng vài chục năm nay mà vẫn chưa đủ sao ? Người dân còn và sẽ làm gì ? họ sẽ có suy nghĩ và hành động như thế nào nếu cứ thấy,chịu những phi lý và hệ lụy của nó diễn ra ? và rồi tình hình  kinh tế chính trị, xã hội sẽ đi đến đâu? Than ôi hai tiếng "khổ dân " hay "dân khổ " thời nay ?

Tác giả: Viết Lê Quân (Báo điện tử Giáo dục giaoduc.net.vn)