Thứ Năm, 25 tháng 10, 2012

Qua huyện Nghi Xuân
























Thọ Xương là Thọ Xương nào???


Đi trên phố Phủ Doãn, nếu để ý sẽ thấy một ngõ khá to nằm giữa Ấu Triệu, Ngõ Huyện và xa hơn một chút là phố Chân Cầm.
Nói Chân Cầm chắc nhiều người sẽ nhớ đến sẽ nhớ hàng miến lươn và đặc biệt là bia Sửu, nay đã chuyển địa điểm. Ngõ Huyện thì hồi trước là karaoke, nay là cà phê, đầu ngõ phía Lý Quốc+ Sư là hàng cháo sườn buổi chiều rất là đông khách.
Còn Ấu Triệu thì quá nổi tiếng nhờ …Nhà Thờ và các quán cà phê như La Palace.
Nhưng cái ngõ kia thì ít người để ý hơn, vì nó chẳng có gì đặc biệt, ngoài cái tên: “Ngõ Thọ Xương”.
Ngõ Thọ Xương là di sản còn sót lại của huyện Thọ Xương thuộc tỉnh Hà Nội.
Không biết ai đó trong chính quyền Hà Nội sau năm 1954 còn nhớ đến huyện Thọ Xương tỉnh Hà Nội mà đặt tên Thọ Xương cho cái ngõ này, vốn trước đó có tên Pháp là “ruelle Père Dronet”.
Thọ Xương là một địa danh hơi hơi lâu đời, trước là Vĩnh Xương, sau đến nhà Mạc đổi thành Thọ Xương và tồn tại mãi đến nhà Nguyễn. Thời Gia Long thì Thọ Xương thuộc phủ Hoài Đức. Đến thời Minh Mạng làm vua, cải cách hành chính đất nước, ông lập tỉnh Hà Nội, có bốn phủ (1831). Trong bốn phủ có phủ Hoài Đức, trong phủ Hoài Đức có huyện Thọ Xương, trong huyện Thọ Xương có phường Báo Thiên tức là khu Hồ Gươm Nhà Thờ bây giờ.
Cuộc cải cách hành chính sâu rộng của Minh Mạng đã gây ra sự bất mãn của đám quan lại và quý tộc địa phương, dẫn tới các cuộc khởi nghĩa Lê Văn Khôi, Phan Bá Vành và Nông Văn Vân, đã có tác động không nhỏ đến sự suy tàn và sụp đổ hẳn của Thăng Long.
Chỉ hơn 40 năm sau khi tỉnh Hà Nội được thành lập thì triều đình Huế ký hiệp ước Philastre với Pháp (năm 1874, sau cái chết của Garnier). Từ Hiệp ước này, người Pháp được mua đất và mở các cơ sở kinh doanh ở Hà Nội. Khu vực người Pháp mua chính là khu đất từ phía Hồ Gươm bên này (bên kia là khu phố thương mại hay còn được biết đến với tên Kẻ Chợ) kéo qua khu đầm lầy đến Đồn Thủy. Khu đất này chính là phần đất của huyện Thọ Xương (tương ứng với một phần Hoàn Kiếm và hầu hết phần Hai Bà Trưng + một phần Đống Đa ngày nay).
Một năm sau khi Riviere bị quân Cờ Đen bắn chết, tức là năm 1884, quân Pháp đánh quân nhà Thanh bật ra khỏi miền bắc, sau đó ký hiệp ước với triều đình Huế và chính thức biến Hà Nội thành vùng đất do chính phủ Pháp bảo hộ. Thọ Xương đương nhiên trở thành địa danh chết.
***
Dương Khuê (1839-1902) đã sống và làm quan nhà Nguyễn đúng vào thời kỳ này. Nhưng là ông quan chán đời, chán chính quyền và có tư tưởng chống Pháp. Sau 1884 thì ông từ quan để hưởng thú ăn chơi đặc biệt là món ca trù. Có lẽ ông vẫn nhớ đến huyện Thọ Xương và sự biến mất khi trở thành khu nhượng địa của người Pháp.
Rất có thể trong lúc đi ăn đi chơi, từ lúc làm quan đến lúc làm dân, từ miền trung ra miền bắc, ông đã vô tình biết hai câu thơ (hò?) Huế mà sau này năm 1918 ông Phạm Quỳnh đi chơi như là điền dã Huế đã chép lại và đăng trên Nam Phong. Dương Khuê đã giữ lại một câu, phóng tác câu đầu và viết thêm hai câu đuôi. Thế là ngày nay chúng ta có Hà nội tức cảnh hay còn gọi là Trăng nước hồ Tây.
Sở dĩ nói hai câu kia có gốc Huế bởi Thiên Mụ và Thọ Xương là hai địa danh cụ thể ở hai bên sông Hương, nghe chuông bên này nghe gà bên kia được. Khác với Trấn Vũ và huyện Thọ Xương không chỉ xa nhau mà Thọ Xương là một cái huyện to tướng không cân đối gì với một cái đền (Trấn Vũ) hay một cái chùa (Thiên Mụ).
Còn Thọ Xương ở Huế, có lẽ là một cái gò cao, hình như trên đó có nhà để nuôi các hoàng tử. Tên gọi “Thọ Khương Thượng Khố”. Khi Gia Long lên ngôi thì đổi tên thành Thọ Xương vì kỵ húy Hiếu Khương Hoàng Đế (1802). Khi Minh Mạng làm vua, ông lại đổi tên thành Long Thọ Cương (1824). Còn còn cái tên Thọ Xương thì Minh Mạng chỉ sử dụng cho huyện Thọ Xương ở tỉnh Hà Nội.
Bên này là chuông đêm của tháp chùa bảy tầng, bên kia sông, sau bờ (ngàn) sương khói, là tiếng gà lúc gần sáng của ngôi nhà quý tộc trên gò cao. Thế vừa là có lý vừa phảng phất không khí Phong kiều dạ bạc. Để rồi mấy chục năm sau câu hò ấy lạc bước ra Thăng Long để xuống Hồ Tây còn Phạm Quỳnh thì nhầm tưởng Thọ Xương là làng (thực ra có cái làng chài thật thì phải, tên là Thọ Khương nằm sát bên làng Nguyệt Biều).
Thế là từ Huế một câu thơ lạc bước ra Hà Nội. Một nhà gò sông Hương chuyển về tận hồ Tây. Chứ không phải là Phạm Quỳnh nhầm, đi chơi Huế mà nhặt hai câu lục bát Dương Khuê rồi bảo cứ bảo là của người Huế.
Hay nói cách khác, câu thơ gốc phải là của người Huế, và nguyên bản như sau: “Tiếng chuông Thiên Mụ canh gà Thọ xương”.
***
Phạm Quỳnh viết (tháng 4 -1918 trên Nam Phong):
Cả cái hồn thơ của xứ Huế như chan chứa trong hai câu ca ấy. Chùa Thiên Mụ là một chốn danh lam, có cái tháp bảy tầng, làng Thọ Xương thì ở bờ bên kia. Đêm khuya nghe tiếng chuông chùa với tiếng gà gáy xa đưa văng vẳng ở giữa khoảng giời nước long lanh mà cảm đặt thành câu ca.
Gió đưa cành trúc la đà
Tiếng chuông Thiên Mụ canh gà Thọ Xương
Dương Khuê sáng tác:
Trăng nước Hồ Tây
Phất phơ ngọn trúc trăng tà
Tiếng chuông Trấn Võ, canh gà Thọ Xương
Mịt mùng khói tỏa ngàn sương 
Nhịp chày An Thái, mặt gương Tây hồ
Bản dân gian sau này sưu tầm được ở Huế
Gió đưa cành trúc la đà, 
Tiếng chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ Cương. 
Thuyền về xuôi mái dòng Hương, 
Biết mô tâm sự đôi đường đắng cay? (hoặc Có nghe/biết đâu tâm sự đôi đường đắng cay)
Nôm na kết luận thế này. Một là Thọ Xương ở Huế có trước. Thọ Xương Hà nội có sau. Khi Dương Khuê sáng tác Hà nội tức cảnh thì cả hai địa danh này đều đã chết. Ở Huế chết trước, ở Hà nội chết sau. Hai là câu thơ Phạm Quỳnh chép lại, không phải do ông ấy bịa ra, mà ông ấy chép lại từ (câu hò?) của người dân kinh thành Huế. Tức là ở đây có thể có hai giả thuyết.
Giả thuyết 1: Dương Khuê đi chơi Huế, hoặc tình cờ sao đó, biết được hai câu hò Huế. Sau đó ông đã sử dụng một câu làm chất liệu để sáng tác bài thơ Hà Nội Tức Cảnh. Việc dùng material của văn hóa dân gian để đưa vào sáng tác mới là việc hết sức bình thường. Một ví dụ điển hình là Ngẫu hứng ngựa ô của Trần tiến.
Giả thuyết 2: Sáng tác gốc là của Dương Khuê, bị folklore hóa, rồi trở thành hò Huế. Việc một sáng tác bị folklore và trở thành tác phẩm dân gian khuyết danh là hết sức bình thường (Tát nước bên đàng, Anh đi anh nhớ quê nhà … là các tác phẩm như vậy). Nhưng folklore một bài thơ tả cảnh tỉnh lẻ Hà Nội mà đi vào kinh đô Huế để trở thành hò (dân ca) địa phương thì hơi khó.

Cop từ blog cô Beo, cô Beo cop từ blog 5 xu

Thứ Sáu, 19 tháng 10, 2012

TẠI SAO CỨ PHẢI GÀ CHUYỂN CANH

Mấy hôm nay báo mạng ầm ĩ chuyện cô giáo Thu Thủy và 8 điểm canh gà đắng ngắt, có lẽ cô giáo thạc sĩ sẽ nghỉ, cũng có thể em học trò sẽ bị đì đến chết, thôi kệ... xin được nói vài điều về chuyện CANH GÀ.
Nguyên bản câu ca dao (nhưng cũng có thể của họ Dương nào đó):
Gió đưa cành trúc la đà
Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương
Mịt mù khói tỏa ngàn sương,
Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ 
Tiếng chuông Trấn Vũ thì khỏi phải bàn, nhịp chày Yên Thái cũng dễ hiểu vì nghe nói làng Yên Thái có nghề làm giấy, tiếng chày giã giấy có thành "nhạc hiệu" của làng. Tương tự như vậy với mặt gương Tây Hồ, một phong cảnh nên thơ của bao đời thi sĩ, từ cái quán Cổ Nguyệt đường của nữ sĩ Xuân Hương đến bước chân của thi sĩ Miên Thẩm đến chỗ nào quanh quất bên mộ nữ sĩ bạc mệnh.
1. Trấn Vũ hay Linh Mụ
Phải nói ngay rằng trong ca dao có hiện tượng "gán ghép" địa danh (Cái này không biết các cụ nghiên cứu folklor gọi là chi). Ví dụ: Ai cũng biết câu "Đồng Nai gạo trắng nước trong..." nhưng ở quê em người ta cũng đọc rằng "Thuận Lạc gạo trắng nước trong/ Em muốn về Thuận lạc cho thong dong con người", hay từ bà can nhà em đã đọc cho đời chắt chít "Ai về Thuận Lạc mà coi/ Bắc niêu lên bếp xách oi ra đồng", nhưng cũng câu ấy, cụ Ninh Viết Giao lại viết trong Tuyển tập ca dao xứ Nghệ rằng "Ai về xóm Mý mà coi".
Dân HN có câu trên, thành quen thành thuộc. Nhưng người Huế cũng đọc câu ca này rằng:
Gió đưa cành trúc la đà
Tiếng chuông Linh Mụ, canh gà Thọ Xương.
Vậy câu ca trên của ai, Linh Mụ và Trấn Vũ là khác nhau (chưa kể bên là chùa bên là thờ thần Huyền Thiên trấn vũ), vậy Thọ Xương ở Huế có phải là con gà gáy sáng của làng Thọ Xương không? Có sự di chuyển câu ca từ Huế ra HN hay ngược lại. Giả thiết rằng ở Huế có một Thọ Xương biến đổi từ Thọ Khang (Khương) sau do kị húy mà thành, rồi từ Minh Mệnh lại chuyển thành gò Long Thọ và duy trì cái tên Long Thọ từ 190 năm trước đến nay. Gò Thọ Khương/ Thọ Xương nằm đối diện với chùa Linh Mụ qua sông Hương thì cái câu ca hữu ý lắm. Thọ Xương của Huế mới đúng là cái hoàn cảnh hữu tình của một anh thuyền chài buổi sáng mai đi sớm chợt nghe tiếng chuông chùa và tiếng gà chuyển canh từ hai bên bờ sông mang lại. Như vậy, sao nhất thiết cứ Thọ Xương là ở HN. Sao không đặt ra một giả thiết rằng câu ca là của họ Dương sau khi vào kinh kì về đã ghép Linh Mụ thành Trấn Vũ, và may mắn thay ở Thọ Xương (Hà Nội) lại có món canh gà (nói nôm là nước luộc gà có thêm tí hành, lá chanh...).
Sự vô tình đó dường như càng hữu ý hơn bởi di cảo của Vũ Bằng để lại: 
Tương Bần, cà Láng, dưa La.
Cá rô đầm Sét, canh gà Thọ Xương.
2. Canh gà = gà gáy điểm canh/ nước luộc gà hiểu sao cũng được
Tớ không ở HN nhưng cũng nghe qua một số tài liệu, đó là thơ của cụ Dương nào đó, của cụ Vũ Bằng (trong mối quan hệ cá rô Đầm Sét, cà Láng, dưa La thì canh gà Thọ Xương không thể là gà gáy sáng, vô duyên) thì rõ ràng cũng tồn tại một canh gà là nước luộc gà hoặc là gà xáo đấy chứ. Nếu nó về Nghệ An mà thành: Gió đưa cành trúc la đà/ Tiếng chuông Sư Nữ, canh gà Thanh Chương thì không thể giải thích thành gà Thanh Chương gáy sáng mà chỉ có thể là gà Thanh Chương đang sôi sùng sục trong nồi cùng với răm, hành, lá chanh, nghệ... Tại sao các nhà phê bình, giảng nghĩa văn học cứ nhất thiết cho là "canh gà" chỉ có thể là gà gáy canh. 
Nói thật chứ Tiếng Việt đa nghĩa, hoặc là cái nghĩa địa phương nếu như không đặt trong bối cảnh của tác giả thì ko hiểu nổi. Ví dụ như cái câu của các cụ dân Bắc Kỳ viết thành "Gia tư nghĩ cũng thường thưởng bậc trung" (Kiều) thì nó chẳng có ý nghĩa quái gì, mãi sau này có ông đồ Nghệ ngất ngưởng mới sửa thành "Gia tư NGHỈ cũng thường thường bậc trung", ra thế, nghỉ ở đây không phải là ghi sai do phương ngữ (lẫn lộn giữa dấu hỏi/ngã) mà là một đại từ, nghỉ = hắn (tiếng phổ thông)=him (Iêng lích). Đấy, các cụ cao siêu, nhiều chữ nên hiểu "Canh Gà" thành gà gáy canh (mình nghe cũng dung tục bm), thời đó hơn 95% dân éo biết chữ thì cứ Canh gà là canh con gà, là nước luộc gà hoặc gà nấu xáo đó, nhất thiết phải.
Do đó, trên cơ sở văn bản truyền mồm, muốn hiểu là canh con gà hay con gà gáy sáng cũng được. Nhưng xét về tính địa phương của câu ca thì hãy nghe người dân ở khu vực đó giải thích. Bản thân ông phụ huynh cũng là dân tỉnh khác nhập cư chẳng hạn nên không biết món canh gà nên cho rằng cô Thủy sai. Nhưng ý kiến của hậu duệ cụ Dương , Vũ Bằng... cũng không thể chối bỏ. Tôi đố mấy ông Giáo sư, tiến sĩ chẳng hạn nếu không hỏi người Nghệ thì không thể giải thích được mấy câu, đại loại:
Nhà bà đã khéo chọn du
Mồm thì thổi lả, lộ khu thổi kèn
hay
Thu đạ qua rồi còn đại lụ
Thầy trò Trù Đại gặt giúp dân 
hay 
Ba o đi cấy dới bàu
Khu thì tộng hổng, cá tràu chui vô

Tổng kết lại cái sự lí luận nãy giờ cũng có mấy điều:
1. Hiểu canh gà là cái quái gì cũng được, văn học dân gian là thế, hiểu sao thì hiểu.
2. Quân báo mạng, có cả mạng ngon như VnExpress là quân mất dạy, ngày càng mất dạy, đéo tin được.
3. Ông bố phụ huynh đứa con hành động quá nhanh nhẩu, quá tin vào báo chí, khổ thân con bé chắc bị đì đến già (Như Đỗ Việt Khoa chẳng hạn).
4. Lỗi là của hệ thống giáo dục chứ không phải của cô Thu Thủy.

Thứ Sáu, 5 tháng 10, 2012

Chùa Bà Bụt với Uy Minh Vương Lý Nhật Quang


Hiện nay ở Nghệ An có nhiều di tích đình, đền, chùa thờ tự Uy Minh Vương Lý Nhật Quang. Đây là nhân vật lịch sử đã để lại nhiều dấu ấn và công trạng đối với vùng đất xứ Nghệ nói chung cũng như với Phật giáo nơi đây nói riêng. Nhân hội thảo Văn hóa Phật giáo xứ Nghệ: Quá khứ, hiện tại và tương lai, chúng tôi trong bài viết này sẽ đề cập và nhận diện mối quan hệ đầy huyền hoặc giữa Uy Minh Vương Lý Nhật Quang với một ngôi chùa cổ xứ Nghệ, đó là chùa Bà Bụt thuộc xã Lam Sơn, huyện Đô Lương.
1. Vài nét về Uy Minh Vương Lý Nhật Quang
Uy Minh Vương Lý Nhật Quang (? - ?) tên húy là Hoảng, con thứ tám vua Lý Thái Tổ, hoàng đệ vua Lý Thái Tông. Ngài là vị vương gia “sinh vi tướng, tử vi thần” được sử sách các đời ghi chép, đánh giá cao. Thửa nhỏ, ngài rất thông minh, hiếu học, tính khí ôn hòa, được mọi người yêu mến. Khi Lý Thái Tổ mất, các hoàng tử tranh giành ngôi vị, dẫn đến loạn Tam Vương[1], Lý Nhật Quang trong vòng xoáy tranh đoạt đó vẫn giữ nguyên phận vị, không hề tư tâm. Nhờ vậy, ngài được vua Lý Thái Tông tin cẩn, giao cho nhiều trọng trách.
Năm Kỷ Mão (1039), ngài phụng mệnh tới đất Nghệ An trông coi việc tô thuế. Nghệ An thời bấy giờ là vùng biên viễn, đời sống người dân cơ cực, lại phải thường xuyên chịu sự càn quấy của Chiêm Thành, Lão Qua. Với tấm lòng nhiệt huyết, vì nước vì dân, ngài đã ổn định được dân tình, hoàn thành tốt nhiệm vụ vua ban. Đại Việt sử ký toàn thư nhận định: “Vua ủy cho Uy Minh thu thuế châu Nghệ An và sai đặt trại Bà Hòa cho trấn được bền vững; lại đặt điếm canh ở các nơi, chứa lương thực đầy đủ, cái gì cũng vừa ý vua”. Lý Tế Xuyên trong Việt điện u linh  đề cao: “Vương là người trung hiếu, cung cẩn, hành động quả cảm, gọi là Bát Lang Hoàng tử. Niên hiệu Càn Phù Hữu Đạo năm đầu, được chọn làm việc tô thuế ở Nghệ An, giữ chức mấy năm, sợi tơ sợi tóc của dân không hề xâm phạm, nổi tiếng liêm trực, vua rất yêu mến”.
Năm Giáp Thân (1044), ngài từ tước Hầu được tấn phong lên thành Uy Minh Vương, đích thân vua Lý Thái Tông trao quyền cho ngài trấn thủ châu Nghệ An. Kể từ đây, sự nghiệp của ngài đã gắn chặt với mảnh đất, con người xứ Nghệ. Trở thành Tri châu, nắm trong tay quyền quyết định về mọi mặt đời sống kinh tế chính trị văn hóa nơi sở tại, ngài ra sức xây dựng, dìu dắt nhân dân Nghệ An phát triển. Từ một châu trại “ki-mi” nghèo nàn, dưới sự trị bình của ngài, Nghệ An đã vươn mình trở thành một trong những châu phồn thịnh nhất, làm nền móng vững chắc cho vương triều Lý cũng như các triều đại về sau. Sự tích còn ghi việc ngài chọn vùng đất Bạch Ngọc làm phủ lị Nghệ An, gọi là phủ lị Bạch Đường. Đây được xem là tầm nhìn mang tính chiến lược, bởi ở vào thời kỳ đó, Bạch Ngọc là chốn địa linh nhân kiệt, công thủ lưỡng toàn, có núi Quả cao che chắn, có sông Lam dài yểm trợ. Mười sáu năm ngài làm Tri châu là mười sáu năm thanh bình reo ca của xứ Nghệ. Kinh tế được đẩy mạnh, hàng hóa được lưu thông, ruộng đồng tốt tươi, tằm dâu xanh mướt, tàu thuyền buôn bán, đánh bắt thủy hải sản tấp nập. Đê điều được vun đắp, đất đai được vỡ hoang. Nơi biên cương được giữ vững, các tù trưởng thần phục, uy thế vương triều được nâng cao. Việc học hành, lễ nghĩa được coi trọng, hình ảnh châu trại Nghệ An xa xôi, khắc khổ được cải biến, thế và lực được tăng lên. Đặc biệt đáng chú ý, ngài là người có công rất lớn trong việc gây dựng và phát triển Phật giáo xứ Nghệ, tạo nên nét riêng biệt cho đời sống tinh thần của người dân nơi đây. Uy Minh Vương Lý Nhật Quang sinh ra trong hoàng tộc nhà Lý. Mà Phật giáo giai đoạn Lý triều chiếm vị trí chủ đạo so với các tôn giáo khác, nhận được sự sùng chuộng của mọi tầng lớp. Ngay Lý Thái Tổ - vị vua tiên khởi của triều Lý là con nuôi nhà Phật, thửa nhỏ được dạy dỗ trong chùa. Vậy nên, lẽ thường tình Uy Minh Vương Lý Nhật Quang cũng là người thấm nhuần Phật pháp. Khi trị nhậm ở Nghệ An, ngài lấy giáo lý từ bi, bác ái của nhà Phật làm tín điều răn dạy mọi người, đồng thời cho xây dựng chùa chiền để nhân dân tụng niệm. Có thể nói thời kỳ ngài trấn nhiệm là một mốc son huy hoàng của Phật giáo xứ Nghệ nói riêng cũng như mọi mặt của đời sống xã hội Nghệ An nói chung. Xin mượn lời bình của danh sĩ Lý Tế Xuyên để khắc họa thêm tầm vóc của ngài: “Vương coi việc châu ấy mười sáu năm, tiếng lành ngày càng vang xa, nhân dân tin yêu. Nghe tin vương từ chức, dân tranh nhau níu xe, giữ ngựa, khóc lóc (…) Dân trong châu xin lập đền thờ, cầu tạnh cầu mưa, không gì không linh ứng, là một vị đại phúc thần của cả châu”.
2. Chùa Bà Bụt: nơi khởi nguồn sự tích
Ngoài đền Quả Sơn là nơi thờ tự chính của ngài thì chùa Bà Bụt là nơi ghi dấu những truyền kỳ đượm đầy màu sắc Phật giáo về ngài ở đất Nghệ An. Chùa Bà Bụt còn được gọi là Tiên Tích tự, thuộc địa phận xã Lam Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An. Xét theo phủ lỵ Bạch Đường của Uy Minh Vương Lý Nhật Quang lập nên khi xưa thì chùa nằm trọn bên trong. Địa thế chùa được xây dựng trên nền đất cao, thoáng, bên bờ tả ngạn của sông Lam. Cảnh chùa do đó gợi vẻ thoát tục, trong lành, được nhiều tín đồ, Phật tử gần xa tìm về, thật đúng như lời đôi câu đối:
Thắng cảnh hảo chung thiên địa tú
Danh lam biệt chiến cổ kim kỳ
Dịch nghĩa:
Cảnh đẹp trời đất hun đúc nơi chốn này
Chùa cổ xưa nay nức tiếng lạ kỳ
Theo lời kể của các cụ cao niên, xưa kia chùa có diện tích khoảng gần 10 mẫu, gồm nhiều hạng mục như nhà trạm, nhà thuyền, bái đường, thượng điện, tam quan, sân vườn, ao sen, tường bao. Tiếc rằng thực tế hiện nay chùa chỉ còn bái đường, thượng điện, sân vườn, những cảnh quan còn lại đã bị phá dỡ hoàn toàn. Nhà bái đường nổi bật với hình chữ nhật có diện tích hơn 50 m, kết cấu kiểu một gian hai hồi, có hai vì, khung xà bằng gỗ lim. Nền nhà lát gạch đất nung, hai đầu hồi xây lửng. Mái lợp ngói âm dương, đóng rui bản. Tiếp đến thượng điện có bố cục dọc theo hướng vuông góc với bái đường. Diện tích nền khoảng 40 m, hai gian hai hồi, khung cũng dựng bằng gỗ lim. Tương tự bái đường, mái thượng điện lợp ngói âm dương với kiểu mũi hài. Niên đại chùa theo truyền thuyết có từ thế kỷ XI, thời nhà Lý. Hồ sơ của Ban quản lý di tích và danh thắng Nghệ An ghi nhận trước năm 1941 chùa quay lưng về phía sông Lam, mặt nhìn ra hướng bắc. Đến năm 1941 chùa mới được dịch chuyển quay mặt về hướng nam. Năm 1995 chùa được tu sửa, đảo ngói, thay thế, đắp vá những chi tiết bị hỏng. Năm 2002, nhân dân trong vùng đã cùng góp dựng xây thêm nhà Hữu vu cho chùa để có không gian đón khách. Về di vật, qua khảo sát chùa hiện lưu giữ được 22 pho tượng cổ, 2 đôi câu đối, 1 bức hoành phi, 2 cửa võng, 3 chuông. Cũng như nhiều ngôi chùa khác, nội dung hoành phi, câu đối ở chùa chủ yếu ca ngợi Phật pháp quảng đại, cứu độ chúng sinh. Năm 2009, chùa chính thức được UBND tỉnh Nghệ An xếp hạng Di tích lịch sử - Văn hóa cấp tỉnh.
Sự linh thiêng của chùa Bà Bụt gắn với một sự tích được truyền tụng bởi người dân nơi đây từ ngàn xưa. Sự tích đó giải nghĩa tên chùa và cho chúng ta biết thêm huyền thoại về Uy Minh Vương Lý Nhật Quang. Sự tích khởi nguồn như sau:
Phật bà Quan Âm là vị Phật có thể hóa hiện thành muôn ngàn hình tướng khác nhau để cứu vớt, giúp đỡ chúng sinh. Vào thời Uy Minh Vương Lý Nhật Quang được bổ làm Tri châu Nghệ An, với tinh thần hết lòng vì dân, vương đã tổ chức khai hoang mở đất, xây dựng phát triển kinh tế. Cảm động trước tấm lòng của vương, Phật bà Quan Âm đã phù giúp ngài gặp được nhiều thuận lợi, may mắn. Trong quá trình chinh phạt quân Chiêm Thành xâm lấn bờ cõi, tàn hại dân lành, vương còn được Phật bà Quan Âm hiển linh âm phù giành được thắng lợi. Một lần khác, vương đi đánh giặc Lão Qua không may bị thương, cưỡi ngựa về đến đất Bạch Đường, thôn Thượng Thọ có bà tiên hiện ra báo với vương rằng: “Quả Sơn là nơi linh địa, huyết thực muôn đời có thể hóa thân ở xứ ấy”. Nghe lời bà tiên, vương về đến đất Quả Sơn thì hóa. Quân dân vô cùng thương tiếc lập đền thờ vương tại đấy, gọi là đền Quả Sơn, quanh năm hương khói. Ngôi chùa nơi bà tiên ứng hiện từ đấy được gọi là Tiên Tích tự, dân gian quen gọi là chùa Bà Bụt.
Cũng liên quan tới sự tích này, có bài đồng dao rất hay được lưu truyền nơi đây, xin trích lược một đoạn để tham khảo thêm:
Ở đất Bạch Ngọc
Thờ đức thánh ta
Nguyên trước ngài là
Con vua nhà Lý
Ra trị tỉnh Nghệ
Mười chín năm tròn
Náo nức tiếng đồn
Mưa nhân gió đức
Sau ngài đánh giặc
Trên trấn ninh về
Núi Quả cận kề
Dừng chân nghỉ chút
Gặp một bà Bụt
Có mười hai tay
Xin hiến đất này
Huyết thực vạn đại
Ngài chưng khi ấy
Phút hóa thành thần
Vậy trước xã dân
Lập đền phụng tự
Về sau, tại chùa Bà Bụt cứ đến ngày 20, 21 tháng Giêng (âm lịch) hàng năm, tín đồ Phật tử và nhân dân trong vùng lại tổ chức lễ tạ để ghi nhớ công ơn bà Bụt phù giúp Uy Minh Vương Lý Nhật Quang. Nghi thức rước lễ diễn ra trang trọng, di tượng Uy Minh Vương được kiệu từ đền Quả Sơn sang chùa Bà Bụt. Đoàn rước khởi hành từ sớm ngày 20 tháng Giêng, chia làm quân bộ và quân thủy, có các vị chức sắc và bô lão đi kèm, tín đồ Phật tử và nhân dân trong vùng xếp thành hàng dài tiếp nối. Sau lễ xuất thần, đoàn rước thủy ngược dòng sông Lam, đoàn rước bộ theo đường đất tiến về chùa Bà Bụt. Đoàn thuyền trước khi cập bến chùa có ghé qua động Ngự - nơi xưa kia Uy Minh Vương thường hay duyệt đội thủy binh. Sáu chiếc thuyền rồng trong tiếng pháo lệnh rền vang đua nhau rẽ sóng về chùa Bà Bụt. Đoàn bộ dàn đội hình gồm đội nghi trượng, đội khiêng kiệu thánh. Khi qua các làng Nhân Bồi, Nhân Hậu, Nhân Trung, Trạc Thanh, đoàn rước dừng lại để nhân dân trong làng ra tế bái. Khoảng tầm giữa trưa, hai đoàn thủy bộ hợp điểm ở chùa Bà Bụt. Kiệu di tượng đức Uy Minh Vương Lý Nhật Quang được đặt tại vị trí trung tâm giữa sân, mặt quay vào chùa, các vị chức sắc, bô lão cùng quân dân theo thứ tự sắp xếp làm lễ bái tạ. Sáng ngày 21 tháng Giêng, hai đội thủy bộ lại làm lễ rước di tượng đức Uy Minh Vương về lại đền Quả Sơn để làm lễ yên vị.
3. Mối quan hệ chùa Bà Bụt với Uy Minh Vương Lý Nhật Quang: nhận diện mô típ
Sự tích, truyền thuyết về mối quan hệ giữa chùa Bà Bụt với Uy Minh Vương Lý Nhật Quang là như thế. Bà Bụt vì cảm động trước tấm chân tình hộ quốc an dân của ngài mà hiển linh, ứng độ. Nhờ đó ngài hoàn thành được công nghiệp của mình ở đất Nghệ An một cách toàn vẹn, được nhân dân muôn đời nhớ ơn, phụng tự. Tuy nhiên, nếu tinh ý bóc tách, vén lên bức màn huyễn hoặc, thì hình tượng bà Bụt ứng hiện, trợ giúp cho Uy Minh Vương Lý Nhật Quang trị bình đánh giặc, sẽ nằm trong một mô típ thường gặp ở các thần tích: đó là mô típ dựa vào thần quyền để thu phục nhân tâm, thâu tập thế quyền của quan viên triều đình khi đến vùng đất mới. Uy Minh Vương Lý Nhật Quang là tôn thất hoàng tộc, sinh ra và lớn lên tại kinh thành Thăng Long hoa lệ. Khi được điều về trấn nhậm đất Nghệ An, ngài chưa có một chỗ dựa vững chắc nào, nhất là về nhân tâm. Đất Nghệ An lúc đấy lại là miền biên viễn, ảnh hưởng của chính quyền nhà Lý rõ ràng chưa đủ để ngài có thể áp chế các thế lực địa phương. Hoàn cảnh đó sẽ là bất lợi nếu ngài không nhanh chóng thu hút được lòng người. Mà như ta đã biết, thời kỳ này Phật giáo đang hưng thịnh, người dân Nghệ An nói riêng cũng như cả nước nói chung rất lấy làm sùng chuộng. Lý Nhật Quang theo truyền thống hoàng gia cũng đồng thời là một Phật tử, vậy nên không quá ngạc nhiên khi thần tích về ngài có mối quan hệ sâu sắc với Phật giáo. Sự thuận tòng của người dân xứ Nghệ dành cho ngài do đó có lẽ cũng một phần từ yếu tố “thần quyền” mà ngài dựa vào, cụ thể ở đây là bà Bụt – Phật bà Quan Âm. Tạo được sự thừa nhận, ủng hộ về mặt tâm thức Phật giáo của người dân, cấy vào họ niềm tin, sự tôn kính, Uy Minh Vương Lý Nhật Quang đã dần từng bước chiếm lĩnh lòng người, sự bài xích ngăn cách bởi yếu tố thủ cựu địa phương đã được ý niệm thần quyền Phật giáo gắn kết, mang lại quyền lực thực tế cho ngài. So sánh chủ trương an dân, xiển dương vị thế của các chúa Nguyễn như Nguyễn Hoàng sau này, mô típ dụng thần quyền để thâu tập thế quyền đó càng thêm hiện hữu. Nguyễn Hoàng khi vào trấn thủ đất Thuận Hóa, song song các hoạt động tập hợp, củng cố lực lượng, xây đồn đắp lũy, đã rất khôn khéo trong ứng xử về mặt tâm linh tín ngưỡng. Bắt đầu bằng việc vận dụng những giai thoại liên quan tới Phật giáo. Đại Nam thực lục tiền biên có ghi: “Tân Sửu (1601), chúa[17] dạo xem hình thế núi sông, thấy trên cánh đồng bằng ở Hà Khê[18] nổi lên một gò cao, như hình đầu rồng quay lại, phía trước thì nhìn ra sông lớn, phía sau thì có hồ rộng. Nhân thế hỏi chuyện người địa phương, họ đều nói rằng gò này rất thiêng. Tục truyền rằng: xưa có người đêm thấy một bà già áo đỏ quần xanh ngồi trên đỉnh gò nói rằng: “Sẽ có vị chân chúa đến xây chùa ở đây, để tụ khí thiêng, để bền long mạch”. Nói xong bà già ấy biến mất. Chúa cho là núi ấy có linh khí, mới dựng chùa gọi là chùa Thiên Mụ”. Ẩn ý bên trong sự tích ấy ngầm chỉ ra rằng họ Nguyễn, vị “chân chúa” tiền định đã xuất hiện, xây chùa để tụ khí thiêng cho bền long mạch. Sứ mệnh của chúa Nguyễn đã được “dự báo”, tuyên ngôn đầy huyền bí nơi ngôi chùa Phật giáo bằng cách như thế. Rõ ràng, xét về mô típ quan hệ giữa chúa Nguyễn với chùa Thiên Mụ này không khác biệt nhiều với mô típ về mối quan hệ giữa Uy Minh Vương Lý Nhật Quang với chùa Bà Bụt đã phân tích. Tóm lại, vai trò trợ giúp về mặt thần quyền để thâu tập thế quyền của Phật giáo trong trường hợp chùa Bà Bụt và Uy Minh Vương Lý Nhật Quang có ý nghĩa rất đáng ghi nhận, khi mục đích hướng tới nhằm để Uy Minh Vương có thêm sức thu phục lòng người, mang lại cuộc sống bình yên, no ấm hơn cho người dân xứ Nghệ.
4. Một số góp ý cho công tác bảo tồn và phát huy giá trị chùa Bà Bụt hiện nay
Với những giá trị lịch sử và văn hóa, đặc biệt là mối quan hệ huyền kỳ với Uy Minh Vương Lý Nhật Quang – bậc danh nhân được xứ Nghệ muôn đời nhớ ghi - chùa Bà Bụt ngoài chức năng trung tâm sinh hoạt tôn giáo tín ngưỡng của tín đồ nhân dân trên tuyến quốc lộ 7, còn rất có tiềm năng để trở thành trọng điểm tham quan du lịch. Nét cổ kính, thuần hậu của cảnh quan nơi đây sẽ là điểm nhấn, thu hút du khách cả trong và ngoài tỉnh. Đồng thời, đây cũng là một trong những nơi tiêu biểu cho nét đẹp văn hóa Phật giáo xứ Nghệ, rất cần được giữ gìn và phát huy. Trước hiện trạng chùa Bà Bụt xuống cấp và có phần lơi lỏng trong quản lý như hiện nay, chúng tôi xin đưa ra một vài góp ý cho công tác bảo tồn như sau:
Thứ nhất, cần nhanh chóng tu bổ những hạng mục đã xuống cấp, gia cố thêm những vị trí bị hỏng hóc, phục chế những di vật có nguy cơ đổ vỡ. Ngoài ra cần đầu tư phục hồi những công trình vốn có khi xưa của chùa như cổng tam quan, sân vườn, ao sen… để lấy lại vẻ uy nghiêm và tô điểm cảnh sắc cho chùa.
Thứ hai, vị trí chùa nằm đối diện bờ sông, xung quanh là đồng ruộng, ít dân cư nên rất khó khăn cho việc bảo vệ di tích. Cần xây thêm tường bao, cắt cử người bảo vệ, trông nom thường xuyên. Bên cạnh đó, các cấp nghành chức năng cần tạo thêm cơ sở pháp lý để có chế tài xử phạt khi có vi phạm.
Thứ ba, chùa hiện không có sư trụ trì, nên chăng phía Giáo hội cùng Ban trị sự Phật giáo tỉnh nên có sự điều động, phân bổ nhà sư về tu tập, coi sóc. Đường vào chùa hiện khá khuất lấp, vắng vẻ, cần cải tạo, mở rộng, lập biển chỉ báo để thuận tiện hơn cho tín đồ, du khách thăm viếng.
Cuối cùng, các bên hữu quan cần xây dựng kế hoạch quảng bá, thuyết minh về ý nghĩa lịch sử văn hóa chùa một cách sâu rộng, đẩy mạnh việc tuyên truyền ý thức cho tín đồ, nhân dân để cùng góp sức chung tay gìn giữ và phát huy giá trị chùa Bà Bụt.
 TRẦN MẠNH QUANG