Thứ Hai, 26 tháng 12, 2011

Về nguồn gốc tên gọi Đô Lương

THƯ GỬI TÁC GIẢ ĐÌNH SÂM
Tác giả bài viết “Một cảm nhận xứ Lường” trên Nghệ An điện tử.

Anh Đình Sâm mến!

Tôi chưa được gặp anh, chỉ biết anh qua trang viết ngắn trên báo Nghệ An số ra ngày Chủ nhật (4/12/2011 – bản điện tử), qua Ban biên tập báo Nghệ An tôi cũng muốn tâm sự cùng anh đôi điều.
Thứ nhất, xin cảm ơn anh vì đã có những cảm nhận sâu sắc về xứ Lường, mặc dù anh là người Thanh Giang ngày xưa và Thanh Chương bây giờ. Tôi cũng có những cảm nhận riêng của mình về đất quê anh, nơi đã sinh ra những  bậc văn nhân, sỹ phu nổi tiếng từ ngày trước đến bây giờ. Lớp trẻ chúng tôi hiện giờ có người biết, người cảm được, nhưng cũng có những người mà nói đến những cái tên như Phúc Đồng, Phương Liên, Thuận Lạc, Thuần Trung, Bột Đà… họ không biết. Họ cũng không biết tại sao có những cái tên xã như bây giờ như Liên Sơn, Văn Sơn, Lạc Sơn, Trung Sơn, Xuân Sơn… (chính là được ghép từ tên làng ngày trước với tên huyện Anh Sơn; tương ứng với các xã vừa nêu là làng Phương Liên (nay là thị trấn Đô Lương), Văn Tràng, Thuận Lạc, Thuần Trung, Trường Xuân…). Cần lắm những bài báo của những người con Đô Lương và người ngoại huyện để chúng tôi có những cái nhìn sâu sắc hơn về quê hương, xứ sở. Lời cảm ơn này của tôi cũng là của những người trẻ Đô Lương đến anh vì bài báo.
Thứ hai, tôi muốn trao đổi với anh vài điều về nội dung bài viết. Trong bài báo anh có nói đến cái địa danh Đô Lương thế này: “Theo những gì tôi bập bõm được, từ “Đô Lương” là gọi trệch đi từ chữ  “Do Luong” (Đò Lường) theo văn bản chữ không dấu thời Pháp thuộc. Sông Lam lở bồi mấy trăm năm lại nay được “trang điểm” ven hữu ngạn đoạn qua Đô Lương bây giờ một bến đò Lường một thời nhộn nhịp bán mua của người bản địa với thuyền nhân từ quê Trạng Lường Lương Thế Vinh ở Nam Định vượt bể, ngược sông lên. Bến đò Lường có tên từ bấy(?)”.  Những điều này tôi hoàn toàn không đồng ý. Xin thưa với anh là từ những  năm 1756, La Sơn Phu Tử đã được bổ làm Huấn đạo Anh Đô. Tên gọi Đô Lương theo thiển ý của tôi có nguồn gốc từ tên Anh Đô và Lương Sơn có từ cách nay hơn 300 năm. Còn theo sách “Tên làng xã Việt Nam đầu thế kỷ XIX” thì đầu thế kỉ 19, cách đây gần 200 năm thì tỉnh Nghệ An gồm có 5 phủ: Hà Hoa, Đức Quang, Anh Đô, Diễn Châu và Trà Lân.
Riêng phủ Anh Đô như sau:

C. Phủ Anh Đô
gồm có 2 huyện:
1. Huyện Hưng Nguyên
gồm 7 tổng, 86 xã, thôn, phường, vạn, tộc
                        Tổng Phù Long
                        T. Thông Lãng
                        T. Đô An
T. Hoa Viên
                        T. Hải Hộ
                        T. Cảo Trình
                        T. La Hoàng
2. Huyện Nam Đường
Gồm có 8 tổng, 90 xã, thôn, phường, trại, sách, giáp, vạn
1. Tổng Non Liễu: 20 xã, thôn, giáp: Non Liễu, Yên Lạc, Thanh Tuyền, Non Hồ, Vân Đồn, Chung Giáp, Thượng Hồng (thôn)
                        2. Tổng Lâm Thịnh
                        3. Tổng Đại Đồng
                        4. Tổng Hoa Lâm
5. Tổng Đô Lương: 24 xã, thôn, giáp:
- Đô Lương (xã): thôn Cẩm Hoa Thượng, thôn Cẩm Hoa Đông, giáp Nghiêm Thắng, giáp Duyên Quang, thôn Đông Trung, thôn Hoa Viên, thôn Phúc Thị.
- Đại Tuyền (xã): thôn Phúc Thọ, Đông Am, giáp Trung An, thôn An Thành
- Bạch Đường: thôn Nhân Trung, thôn Phúc Tuyền, thôn Phúc An, thôn Nhân Bồi, thôn Miếu Đường.
- Diêm Trường: th An Tứ, Bỉnh Trung, Chấp Trung
- phường Thiên Lý, thôn Vĩnh Trung, ph. Hồng Hoa, vạn Trung Lở (sau đổi là ph. Duy Thanh)
6. Tổng Thuần Trung:
Thuần Trung, Tràng Bộc, Yết Nghi, Phật Kệ (2 thôn Bụt Đà, Phượng Lịch – sau đổi thành Phượng Kỷ do chữ Lịch là huý của vua Hàm Nghi – Ưng Lịch), Sơn La.
7. Tổng Bạch Hà: xã Bạch Hà, Nhân Luật, Lưu Sơn, Thanh Thuỷ, Đào Ngoã.
8. Tổng Lãng Điền: xã Lãng Điền, Mặc Điền, Tào Nguyên, thôn Vạn Hộ, Cấm An, An Lương, vạn Lãng Điền, Mặc Điền, sách Tào Giang.


Như vậy, tên gọi Đô Lương đã có cách nay 200 năm, không thể đến đầu thế kỉ XX khi quân Pháp sang mới không ghi được Đò Lương mà ghi lại trệch thành Đô Lương như anh hay cả Thạch Quỳ nói nữa. Tôi cũng có một số tư liệu là sắc phong từ cuối thế kỉ XVIII thời Cảnh Hưng cho một số tướng sĩ người Đô Lương, trong đó có địa danh Anh Đô như đã nói ở trên nhưng không tiện gửi cho anh được.
Hơn nữa, tôi cũng không dám khẳng định tên Lường là có từ tên của trạng Lường Lương Thế Vinh, dân Đô Lương quê tôi không quen gán ghép cho mình với những danh nhân nổi tiếng để được vinh danh. Có thể đó là cảm nhận của anh thông qua một số chuyện thu lượm được trong quá trình điền dã. Tuy nhiên, đó không phải là quan điểm của người Đô Lương.
Một vài ý kiến gửi anh, mong anh tham khảo. Nếu có dịp xin được trao đổi với anh nhiều hơn.

Thân mến!

Thứ Năm, 22 tháng 12, 2011

Đừng đánh mất tương lai

Tôi học ngành môi trường. Thời đi học được bà giáo cho một định nghĩa về môi trường như thế này: Môi trường là sản phẩm của quá khứ, tác động đến cuộc sống hiện tại và quyết định đến tương lai.

Chúng ta vẫn nghe những câu thơ của Nguyễn Đình Thi:

Đẹp vô cùng Tổ quốc ta ơi
Rừng cọ, đồi chè, đồng xanh ngào ngạt
Nắng chói sông Lô hò ô tiếng hát
Chuyền phà rào rạt bến nước Bình Ca.


Có đi nhiều mới biết quê hương mình đẹp lắm, như những bức tranh vậy. Nhất là những mùa vàng trên miền quê yên ả, những con người đội nắng mang trên vai những gánh lúa mới gặt, văng vẳng bên tai tiếng của máy tuốt, máy đập, tiếng của những trẻ con nghịch ngợm với rơm vàng. Đó là những dòng sông, những bến đò, những núi rừng ngút ngàn tầm mắt, những ánh trăng vằng vặc trên dãy núi đằng xa. Cuộc sống đã cho ta những ngày tháng tuổi thơ trên miền quê yên ả, để được biết đến những kỉ niệm gắn liền với ruộng đồng, con cua, con ốc. Để có một lần viết bài văn được cô giáo cho điểm 10 với đề tài: “Thiên nhiên là bạn tốt của con người”.

Nước Việt mình đẹp lắm. Tuy chưa có dịp đi hết mảnh đất chữ S thân thương này, chưa được đến đỉnh Phan-xi-păng là nóc nhà của Đông Dương, chưa được đến cao nguyên đá Đồng Văn, chưa được đến bán đảo đón mặt trời đầu tiên của đất nước, chưa được đến với “Đất rừng Phương Nam” trong truyện của Đoàn Giỏi, chưa được đến với mũi Cà Mau, nhưng tôi biết nước mình đẹp lắm… Tôi cũng chưa, và biết đâu sẽ không còn cơ hội đến với Hoàng Sa, và tôi cũng mơ một lần đặt chân ra nhà giàn, với Trường Sa để xem cây bàng vuông với người lính đảo. Đất nước mình đẹp lắm, với những ruộng bậc thang của Sapa – thành phố trong sương, với lung linh đất trời Tam Đảo, với thành phố Bốn mùa trên cao nguyên Lambiang, với những bãi biển trải dài. Rừng của ta đẹp như một chàng hoàng tử đang mải mê đi khai phá những chân trời mới, biển của chúng ta cũng như một nàng tiên e ấp.
Quá khứ của đất nước chúng ta đã kết đúc từ hàng nghìn năm như thế đó.

Quá khứ của chúng ta?

Là những em bé cất tép trên những con mương nhỏ. Là những chiều hè tắm táp trên bến sông quê, là những “con trâu chậm ngoài đê, vẫn đi về lối cũ”.

Là những con đường đất thân quen, hay là con đường nhỏ nhắn lát gạch Bát Tràng của những chàng rể phải làm khi muốn rước một cô gái làng nào đó về làm vợ, là những yên bình trong góc phố, là một không gian thảnh thơi cho một ngày mệt mỏi, là tiếng ru à ơi của mẹ, những gánh hàng rong. Những đứa bé bắn bi, đánh đáo, nhảy dây, đánh chuyền trên con đường nhỏ.

Quá khứ của chúng ta là những ngọn núi cao sừng sững, là những chim muông, cây cối, là những chốn u mịch khiến con người run sợ mỗi lần đặt chân đến. Chúng ta vẫn gọi những chốn ấy là sơn lam chướng khí.

Hiện tại của chúng ta?

Hiện tại của chúng ta là những cánh rừng đã mất, những dòng sông chết, những ngọn núi bị xẻ thịt, những mảnh hồn quê đã dần dà thành phố…

Chúng ta đang làm quá nhiều thứ, quá nhiều tội với thiên nhiên, với tổ tiên, và chúng ta đang làm hại cho con cháu của chúng ta.

Chúng ta chỉ biết vơ vét cho bản thân mình, và nghĩ rằng: khi trong túi chúng ta nhiều tiền, thì cuộc sống chúng ta no đủ, con cháu chúng ta sẽ sung sướng. Nhưng bạn có tự hỏi, một đứa bé được nuôi trong một căn nhà biệt lập với thế giới xung quanh, không được hưởng khí trời mà chỉ có không khí của điều hoà; không có những con chim, con thú được tận mắt thấy mà chỉ có thể nhìn chúng trong tủ lạnh hay qua phim ảnh… thì liệu chúng có khoẻ mạnh hơn không? Cuộc sống của chúng có còn là của con người hay chỉ là những cỗ máy chỉ biết nhìn thế giới thông qua tranh ảnh, thú nhồi bông.

Tôi không được đi nhiều nhưng những nơi tôi qua đã cho thấy một hiện tại khắc nghiệt của cuộc sống.

Có nhiều khi chúng ta tưởng hành động của chúng ta không gây ảnh hưởng gì cho cuộc sống, nhưng chính những điều nhỏ nhất đã và đang giết đi những gì chúng ta cần bảo vệ.

Chúng ta chỉ cần ăn, vệ sinh, tắm giặt cho sạch sẽ… và vô tư xả nước. Nếu ở quê thì mỗi nhà một mảnh đất rộng, một ngày một khối nước không là bao nhiêu, thậm chí còn khiến cho cây cối xanh tươi nữa là đằng khác. Nhưng ở thành phố, một nhà, trăm nhà, đến cả hàng chục vạn nhà cùng nhau xả nước, nước tắm giặt lẫn với nước bồn cầu, ti tỉ thứ trên đời cùng nhau tống khứ ra một cái kênh “chung” nào đó. Hậu quả là con sông Tô Lịch của quá khứ trong ông anh rể tôi là con kênh xanh mướt, chiều chiều vẫn đi cất tép về nấu nướng; và con sông Tô Lịch của hiện tại thằng cháu tôi là hàng ngày vẫn phải bịt mũi khi qua. Không chỉ sông Tô mà còn bao nhiêu dòng sông nữa, những dòng sông bị “Bức Tử”. Chỉ lợi ích của một Vedan hay NM Đường Quảng Ngãi, hay Intimex… mà những dòng Thị Vải, sông Ba, sông Lam đến chết mòn , chết héo. Rồi những cánh phu vàng, khai thác chì, kẽm, titan… cũng đang khiến cho những dòng sông Hồng, sông Lô, sông Lam bằng những chât cực kì độc hại.

Rồi hiện tại của chúng ta là những công trường khai thác đá, những cái chết thương tâm, những con người lay lắt. Bạn biết không? Những chủ đá thường ở những vùng trung tâm, họ thường giàu có, thậm chí cực kì giàu có. Có tiền, họ đến khai thác tại những nơi hẻo lánh nhất, những vùng núi với những người dân hiền như củ khoai, hòn đất nay réo rắt và ầm ầm bởi những chuyến xe siêu trường, những tiếng nổ mìn, tiếng máy khoan, máy đập. Những bụi, đất…

Ai cũng nói rằng: tôi đến đây khai thác sẽ mang lại lợi ích cho nhân dân và tăng thu nhập cho chính quyền thông qua đóng thuế. Nhưng dân ở những nơi có mỏ thường dốt (đó là sự thật), họ không có gì ngoài đôi bàn tay… họ phải làm những phu đá, đè lên vai mình hàng tấn đá để kiếm bát cơm, hay đi nhặt những mẩu quặng thừa, rơi rớt. Có một câu chuyện rằng: một công nhân thời vụ mỗi ngày đội đầu hàng tấn cát lên xe để lấy 20 nghìn đồng, nghĩa là chưa bằng 1 bát phở giữa thủ đô, nghĩa là cô ấy đi đội cả ngày chưa chắc được húp một thìa nước dùng của bát phở Kobê. Cuộc sống của chúng ta đang nhiều bất công, đang nhiều ranh giới. Và ranh giới giữa cái giàu và nghèo ngày càng thể hiện rõ, ông chủ mỏ ngày càng giàu hơn và người dân ở đó ngày càng cùng cực. Anh tự nhiên mất đất, đang yên đang lành thì máy móc đến cày nát con đường, cái giếng nước hàng ngày của anh nay dùng bỗng nhiên đổ bệnh.

Hiện tại của chúng ta đang nợ môi trường

Khoáng sản chỉ là một phần của những gì mà chúng ta đang nợ môi trường, nợ nhiều lắm.

Vedan nợ dòng sông Thị Vải, Intimex nợ sông Rào Gang, những sông Cầu, sông Nhuệ, sông Đáy cũng là những chủ nợ của những tên chuyên quỵt nợ.

Chúng ta nợ Sơn Tinh một lời xin lỗi. Chúng ta đang xe nhà của ông ấy và không có một lời phàn nàn nào cả, chúng ta cũng không đền, không hối cải. Bời vì, chúng ta không nhận ra mình có lỗi.

Chúng ta nợ môi trường 1 khoản, mai này chúng ta sẽ mất hàng nghìn như thế, con cháu chúng ta sẽ là những con nợ của thiên nhiên. Chúng ta băm nát những quả đồi để tìm vàng, hiệu quả của dự án là 1 ông chủ và vài chục công nhân có tiền đút két, nhưng không chỉ 1 bản, mà là cả 1 vùng, 1 lưu vực, 1 con sông và bao nhiêu thứ liên quan sẽ chịu theo dự án đó. Sẽ có những trận lũ quét, sẽ có những dòng sông ngập ngụa thuỷ ngân, xiannua… Chúng ta xẻ một ngọn núi, cũng như vậy: trẻ thơ sẽ không dám thơ thẩn đường làng, không có nữa những cảnh yên bình vốn có, và rồi những bụi, những tai nạn thương tâm… Và rồi một mai khoáng sản hết đi, những quả đồi sẽ còn lại gì nữa, những bãi cát khi đá rút hết titan sẽ không còn… Cái mà chúng ta mắc nợ là quá lớn, cái mà con cháu chúng ta phải trả là quá nhiều.

Hãy cứ để cho những mỏ đá, những vỉa vàng nằm yên trong lòng đất, chúng ta hãy lấy ra những gì chúng ta đang cần cho cuộc sống nhất. Chúng ta đang đi xuất khẩu hàng triệu tấn khoáng sản dạng thô, để rồi mai này con cháu chúng ta nhìn những đống rác rưởi mà cha ông để lại, chúng sẽ làm gì?

Hãy sống tốt với hiện tại để giành cho tương lai.

Bài thơ lớp


Mời bạn ghé dzô thăm lớp K
Năm mươi tên giặc nói chẳng ngoa
Cùng nhau điểm lại từng khuôn mặt
Mấy mươi bữa nữa sẽ phải xa

Đầu tiên nhắc đến chú chúc mào
Đỏ đít dài đuôi tướng thanh cao
Hà Quân tên ấy làm lớp trưởng
“Bức tường” bắt chước thật xôn xao.




Loan Trúc ngồi im không nói năng
Khi mà cao hứng bắn pằng pằng
Không kể trời đất cao hay thấp
Ai mà ngăn được mỗi lần hăng.

Chị Nhung năm tấn ngồi một bên
Cũng như cục đất chẳng e hèm
Miệng cười như thể thu tỏa nắng
Ai biết răng này đã nhuộm đen.

Nhắc đến Lê Nhung nhớ Võ Nhung
 Đồng name nên dáng cũng như thùng
Là chúa cà rê vô lớp muộn
Hỏi đến người yêu miệng như bưng.


Ngồi bên con bé Phan Thị Trang
 Cha mẹ đẻ ra vốn nhẹ nhàng
Nhưng đã nhập gia phải tùy tục
Chuyện trò vui vẻ cũng pháo rang.


Hà Tân đội nón rất có ruyên
 Cười tít bay xa đến muôn miền
Mê ăn muốn ngủ là như vậy
Lưu bút này đây đến mấy trang.


Em út lớp ta Hoàng Hà Thương
 So với ả em cũng bình thường
Mà sao cao giọng đòi làm chị
Học tanh như cá một tấm gương.


Động cầu xóm ấy có một cô
 Miệng như bà phật miệng nam mô
Thế mà cũng có đuôi rồi đấy
Có phải chàng trai ấy họ Ngô?


Hà Giang xóm 7 thị trấn kia
Sao mi cao vậy chẳng chịu chia
Anh em bọn tớ vài phân lẻ
Hãnh diện đứng trên lũ râu ria.


Suýt quên con mụ Trình mẹt này
Chị cả cho nên rất sâu cay
Đến tuổi lấy chồng rồi chị ạ
Sao chuyện kéo cưa vẫn gió bay.



ở cùng xóm choa: tên Thanh Nga
lớp phó kiêm giữ sổ Nam Tào
Suốt ngày chăm chỉ như kiến thợ
Mong là hè tới sẽ đậu cao.

Cùng một lối đi xóm khác nhau
Huyền thì xóm 1, Điệp xóm 2
Văn Sơn tươi đẹp hàng cau thẳng
Mời lên ăn “sán” phải chuồn dài.

Rú Cuồi sừng sững thẳng hàng thông
Mỹ Dung đứng dưới những ngóng trông
Tháng chín hè qua mơ thành thực
Giảng đường đại học rộng thênh thênh.

Tràng Sơn có cái đập Bara
13 xóm ấy có một nhà
Sinh ra cô ả Thùy Dung đó
Sao lên trường mới ít hát ca?

Chị Mơ tính tựa một con cua
So với mày râu chẳng chịu thua
Những lúc một mình hiền ra phết
Ai bảo hoe Mơ là chanh chua

Nghĩa Nhân xóm 4 đất lạc sơn
Nghĩa chù tên khác thân mật hơn
Học hành nhà cửa siêng nhất xóm
Ai khen ngúc nguẩy nói “cảm ơn!”

Nữ vương tóc tốt Nguyễn Quỳnh Trang
Tính khí hiền khô rất nhẹ nhàng
Sau cặp đít chai: khung trời ước
Tương lai mở cửa rộng thênh thang

Tên thật là hay Nguyễn Hải Linh
Con của mẹ Dung dạy môn sinh
Học siêng như thể con mọt sách
Đến giờ nhớ ngủ nhé Hải Linh.

Bây giờ chuyển sang với các anh
Thì đã có ngay Đinh Tuấn Anh
Bốn mắt bình thường mà có tám
Cất giấu ở đâu phải nói ngay.

Ngồi bên cá trích Trần Hoàng Quân
Diễn viên Hàn Quốc kém mấy phân
Mà vẫn đơn côi hình với bóng
Gái đú chuyện kia sao bất cần.

Quốc Thắng bên này hét như điên
Tổ trưởng cho nên rất có quyền
Phân công ai nấy rành bình đẳng
Nên chẳng có ai cướp chính quyền.

Một mắt thì gian một mắt hiền
Hay là mắt đã bị thôi miên
Họ Phan tên Tiến người thị trấn
“Tổ tôm” tên gọi lúc thân quen

Công Hiệp ngồi trên “thầy của choa”
Máy in còn kém mấy lần xa
Kiểm tra thư gửi tua như chớp
Ngó nghiêng một ẻm ở tầng ba

Xuân Hiếu lặng im ngồi một bên
Mà nghe giông bão nổi trăm miền
Thỉnh thoảng mới ghé vào góp chuyện
Cười vui rôm rả mấy ngày liền

Cọng đen vốn mốt Italy
Đít chai dày cộm đến mấy li
“Tiến sĩ” mọi người thường quen gọi
Thầy Hải còn khen: “cu ấy lì”.

Minh Thành sao không làm luật sư
Ba quân thiên hạ cười lu bù
Hay cãi – ai bảo “nhây” mà tội
Sắp đến ngày xa phải vô tư.

Ngọc Hậu lặng thinh cười làm duyên
Học giỏi đẹp trai thế mới phiền
Cầm quân đi đánh trăm trận thắng
Cơm nắm muối rang học theo liền.

Một mét bảy hơn: Lê Thanh Phong
Cà lăm nói lại cứ lòng vòng
Cá gỗ là tên theo tính cách
Phải mau mau thoáng có biết không

Chàng trai quên ngủ Đinh Tuấn Hà
Sáng mai vẫn học đến canh ba
Cho nên đến lớp là sâu ngủ
Thầy gọi đứng lên nói chẳng ra

Ngồi bên Văn Bảo chợ Tràng kia
Cùng với Minh An như cá thia
Vui đọc truyện tranh quên mất học
Thầy Dũng luyện thi đang đón kìa!

“Giáo sư” Trần Kiên hay “chíp hôi”
Tóc bồng mắt kính nhưng chẳng hôi
Miệng cười to cỡ hoa bù đực
Nhưng hãy cứ vui đừng có thôi

Đan Phượng – trại gà Hà Huy Quang
Thằng này xuất xứ ở miền Nam
Họ hàng thân thích với chàng trích
Nên cũng như anh – gái chẳng ham

Ngồi bên lớp trưởng Nguyễn Hải Dương
Nghe tên lại nghĩ đến con dương
Anh chị em ơi nên lánh mặt
Kẻo hắn lồng lên không biết đường

Phúc vốn là tên, họ là Vương
Cày bừa vất vả nghĩ mà thương
Cố gắng đi lên công nghiệp hóa
Họ hàng nhà Phúc đỡ dầm sương

Đông Sơn đất ấy có Thái Danh
Mặt ngầu The Man giống đàn anh
Cười nói suốt ngày như đi hội
“Gần xa nô nức nhất yến anh”.

Cảnh Tú làng Vành xứ Trùng Quang
Ngày rằm mùng một cũng khói nhang
Tú ơi chớ có sang ăn oản
Phật vật cho xem chớ khóc than.

Văn Minh phó bí lão đại nhân
Có khi tính khí rất bất cần
Trung Sơn sao hỏi ngô đã bẻ
Làm cô Anh Ngữ giận sôi gân

Khắc Phú họ Lê cùng Khắc Hợp
Tính cũng đôi khi rất là hợp
Thế nhưng có lúc lại mổ nhau
Cũng chỉ đôi khi hay lớp tớp

Bên này Quang Huy người nghệ sĩ
Hát ca tài lẻ miễn phải bàn
Học hành lên tay khi tình đến
Hai bên đều được thật hân hoan

Sang dãy bên kia có Đức Huy
Viết bản kiểm điểm chẳng nghĩ suy
Viết chán cho nên thành ra thuộc
Thành tích này đây chớ phát huy

Sĩ Vinh sở hữu chân vòng kiềng
Vì chưng dáng phật vòng mới thiêng
Trèo tường mấy bận thầy Hùng bắt
Vinh ơi, vì lớp stop liền!

Thí Lù tên gọi rất là quen
Trọng Tuấn là tên chớ có khen
Tóc mai hai mái như con gái
Tiếng gió phát ra cây cối ghen

Việt Anh nhút nhát của ngày xưa
Giờ đây thầy nạt miễn có chừa
Ngồi nơi bàn cuối bàn vui vẻ
“Im lặng” Việt Anh nghe rõ chưa?

Ngồi bên tên gọi Nguyễn Cảnh Hùng
Ai gọi “Hùng béo” chẳng phát khùng
Vốn sinh giờ nói nên ít chuyện
Hè tới Hùng ơi báo tin mừng.
Vùng sâu xa cách Tăng Thanh Hải

Học hành chẳng bao giờ trễ nải
Cắp tay sau đít dọa cô Nguyệt
Ai bảo Hải choa ham sợ hầy.
Suýt quên con ả bẻm thị Tâm

Cũng đôi kiếng cận cho thêm phần
Uy nghi như một bà thông thái
Nhưng với bạn bè lại rất thân
Cuối cùng lại đến phần thằng tôi

Hay là đến lượt ta nên thôi
Thuốc lào – sở thích hay cười nói
Bí thư – chức vụ không phải tồi
Mấy dòng điểm duyệt qua lớp K

Ba năm chung sống dưới một nhà
Mai sau xa cách xin hãy nhớ
Một khoảng trời yêu 12K



Ấy là chưa kể người ra đi
Đầu tiên kể đến Nguyễn Quý Phi
Đội trời đạp đất Đô Lương I
Nên đã chuyển sang bên lớp I

Cùng với Trần Phương tính cũng lì
Ra đi chẳng để lại chút chi
Cho nên bí thư đếm cũng thiếu
Tui phải thêm dô cho mặn mà